You are currently browsing the monthly archive for Tháng Hai 2014.

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

“Hiệu ứng con bướm” (Butterfly effect) – một hiệu ứng giả định trong khí tượng học với nội dung đại thể như sau: “Liệu việc đập cánh của một con bướm ở Brasil có gây ra cơn lốc ở Texas hay không?

(Xem ở: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

“Hiệu ứng con bướm” nói riêng và lý thuyết hỗn độn nói chung (bao gồm cả lời giải của Poincaré) mắc phải một sai lầm mang tính phổ biến xuyên suốt lịch sử nhân loại cho đến tận ngày hôm nay: Một tác động có thể nhỏ bao nhiêu tuỳ ý cũng có thể gây nên một tác dụng tương ứng với nó.

Chúng ta được biết đến định luật vạn vật hấp dẫn của Newton, định luật tương tác tĩnh điện của Coulomb… theo đó khi khoảng cách giữa các vật thể tiến xa vô cùng, thì lực tác động giữa chúng mới tiến tới không. Điều đó có nghĩa là không có bất cứ một hạn chế nào về khoảng cách giữa các vật thể để khiến cho chúng có thể “thoát” khỏi nhau được. Và vì vậy, dương như lẽ đương nhiên là chúng sẽ gây nên cho nhau những tác dụng nhất định mà ta có thể gọi là “hậu quả”.

Những định luật này thật ra mới chỉ có thể kiểm nghiệm được trên những khoảng cách hết sức khiêm tốn trong khả năng của con người trên Trái đất, nhưng bằng vào tư duy theo kiểu “quy nạp không đầy đủ”, con người tự cho phép mình mở rộng ra cho những khoảng cách lớn tuỳ ý, mà quên mất một điều: phép quy nạp không đầy đủ chỉ tin cậy trong phạm vi hữu hạn bao gồm trong những giới hạn đã được thực nghiệm kiểm chứng bằng các phương tiện đo tin cậy.

Điều mấu chốt nhất còn thiếu sót trong tư duy nhận thức của nhân loại về các hiện tượng tương tự như thế này của thế giới tự nhiên chính là đã không nhìn thấy “quy luật lượng đổi, chất đổi” của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Trong vật lý, quy luật này đã được tác giả lượng hoá bởi “nguyên lý tác động tối thiểu” báo cáo tại Hội nghị Quốc tế IMFP 2005 tại Kuala Lumpur, Malaysia.

(Quý vị có thể xem chi tiết bằng tiếng Anh tại link:
https://vuhuytoan.files.wordpress.com/2007/07/1927least_action.pdf,
hoặc bằng tiếng Việt tại link: https://vuhuytoan.wordpress.com , chuyên mục “Về bản thân”).

Nguyên lý này được phát biểu ở dạng sau: “Để thực thể vật lý có thể thay đổi trạng thái năng lượng thì tác động lên nó phải không được nhỏ hơn tác động tối thiểu tương ứng với nó.

Đối với thế giới vi mô, “tác động tối thiểu” này chỉ có một giá trị, đó là hằng số Planck h, vì mọi tương tác chỉ liên quan tới điện tích nguyên tố (điện tích có giá trị nhỏ nhất bằng điện tích của electron). Nhưng đối với thế giới vĩ mô, các vật thể rất khác nhau nên tác động tối thiểu của chúng cũng rất khác nhau, không có chung một giá trị nào. Một ví dụ đơn giản: Bạn ngồi trên xe máy và vặn ga; xe của bạn sẽ không hề nhúc nhích một milimét nào cho tới khi tay ga đủ lớn – xe bạn sẽ chuyển động với một tốc độ (động năng) ban đầu hữu hạn, mà không thể nhỏ bao nhiêu tuỳ ý – đó chính là “tác động tối thiểu” mà ta đang nói tới.

Áp dụng vào với trường hợp này có thể thấy rõ “Hiệu ứng con bướm” chỉ là một kết quả toán học không hơn không kém; nó hoàn toàn phi thực tế. Tác động của con bướm (đập cánh ở Brazil) không vượt qua được “tác động tối thiểu” để hình thành nên “cơn lốc ở Texas” thì nó sẽ chẳng có tác dụng gì cả. Vì vậy, nhất thiết phải xác định được “tác động tối thiểu” cho các hiện tượng tự nhiên (lốc xoáy, bão tố, sóng thần v.v..) thì mới hy vọng dự báo được đúng đắn các hiện tượng đó, nhằm giảm thiểu các thiệt hại mà con người đang phải gánh chịu.

Sự lầm lẫn giữa toán học (như một mô hình của thế giới tự nhiên) với chính thế giới tự nhiên đó là “căn bệnh thế kỷ” trầm kha, làm sai lệch một cách nghiêm trọng nhận thức của nhân loại về thế giới. Hy vọng tới đây, những tư tưởng mới của “Con đường mới của vật lý học” sẽ được cập nhật cho các ngành khoa học ứng dụng khác để phục vụ cho lợi ích của con người trên “hành tinh xanh” hiếm hoi này của vũ trụ.

Advertisements

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Để giúp bạn đọc hình dung một cách cụ thể hơn những sửa đổi mà CĐM đã thực hiện đối với vật lý học cổ điển, dưới đây, tác giả tạm thời liệt kê những phương trình cơ bản có thể sử dụng trong tính toán thực tiễn. Đây cũng chính là những bước đi đầu tiên trên “Con đường mới của vật lý học”.

Để xem chi tiết, xin nhấn vào link sau: Nhung phuong trinh co ban

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Photon 1_2
Dưới đây, tác giả liệt kê những lợi ích mà mô hình photon là dipole này đem lại:

1- Giải tỏa khúc mắc về cái gọi là “lượng tử năng lượng bức xạ” (“một cục năng lượng của chẳng cái gì cả” do nguyên tử “bức xạ” ra như người ta vẫn chấp nhận), vì E = hv cũng chỉ là một phần năng lượng mà photon – là một hạt vật chất – có được để trao đổi trong các tương tác thôi; năng lượng toàn phần của photon phải là cỡ ~ 4mec2 kia (với me ~ 9,1×10-31 kg – là khối lượng quán tính của điện tử trong trường điện; c ~ 3×108 m/s – là tốc độ của ánh sáng trong chân không).

2- Giải tỏa khúc mắc về lưỡng tính sóng hạt của ánh sáng; giải thích được cả các bức tranh nhiễu xạ của ánh sáng lẫn hiện tượng quang điện chỉ bằng tính chất hạt mà không cần đến cơ học lượng tử.

3- Giải thích được vì sao photon không có khối lượng quán tính trong trường điện, nhưng lại có khối lượng quán tính trong trường hấp dẫn nên bị trường hấp dẫn làm lệch hướng chuyển động mà không cần đến thuyết tương đối rộng.

4- Giải thích được vì sao tốc độ của photon trong chân không lại là giới hạn tốc độ chuyển động của mọi vật thể, xét từ góc độ vật lý chứ không phải từ phương trình toán học

5- Giải thích được vì sao tốc độ của ánh sáng trong chân không lại không phụ thuộc vào tốc độ nguồn sáng chứ không phải chấp nhận như một định đề của thuyết tương đối hẹp.

6- Không cần phải dùng tới 2 lý thuyết (vốn không dung hòa với nhau như cơ học lượng tử và thuyết tương đối rộng) mới tạm coi là giải thích được hành xử của photon như hiện nay. Nói “tạm coi” là vì cả hai lý thuyết này đều chưa giải thích được hiện tượng photon chui được qua rây nano có lỗ nhỏ hơn 1/2 bước sóng của nó; chưa giải thích được chính xác hiệu ứng Doppler ngang đối với ánh sáng, chưa giải thích được sự ảnh hưởng trái ngược nhau của hấp dẫn lên hai loại đồng hồ sử dụng khác nhau về nội năng và ngoại năng, bất lực trước cơ chế ánh sáng khi rơi vào hố đen v.v..

7- Góp phần làm sáng tỏ sự hình thành tương tác hấp dẫn từ tương tác điện tàn dư của hai hạt cơ bản (là electron và positron) và do đó thống nhất được tương tác hấp dẫn với tương tác điện. Qua đó, xác định được lượng tử khối lượng hấp dẫn bằng 2me ~ 1,82×10^-30 kg. Điều này cũng có nghĩa là không cần đến hạt Higg để đem lại khối lượng cho các hạt cơ bản trong khi cũng còn chưa biết hạt gì đây sẽ đem lại khối lượng cho chính hạt Higg đó?

8- Tìm ra được bản chất của vật chất tối – đó chính là photon, nhờ đó đã bổ sung thêm 22% vào với 4% vật chất mà con người thấy được cho đến nay.

9- Giải thích được năng lượng tối – phổ độ trưng của các ngôi sao dịch chuyển về phía đỏ mà bị nhầm là sự gia tốc của chúng do nguồn “năng lượng tối” nào đó gây nên phản hấp dẫn. Sự dịch chuyển đỏ không liên quan gì tới tốc độ chuyển động ra xa của các thiên hà mà chỉ đơn thuần là do sự quay chậm lại của photon khi lan truyền trong trường hấp dẫn. Đối với photon, không có chuyển động nào là “theo quán tính” với nghĩa là “với trạng thái năng lượng không đổi” như các dạng vật chất thông thường cả, vì vậy, trạng thái năng lượng luôn bị thay đổi dẫn đến thất thoát – là nguyên nhân của dịch chuyển đỏ. Trong khi đó, các ngôi sao sau khi sinh ra lại nguội dần đi dẫn đến dịch chuyển đỏ sẽ tăng dần theo thời gian chứ chẳng có sự tăng tốc chạy ra xa nào cả. Như vậy, đã bổ xung thêm nốt 74% thành phần của vũ trụ để thành 100% – nhờ ánh sáng tất cả vũ trụ đều đã trở nên SÁNG.

10- Tiên lượng được nguồn năng lượng sạch, vô tận thay thế nguồn nhiên liệu hóa thạch để chế tạo động cơ photon, không cần tới các nhà máy điện với các đường dây tải điện chằng chịt như hiện nay.

Tất cả những điều này khiến ta liên tưởng tới việc thay hệ thống Địa tâm của Ptoleme bằng hệ thống Nhật tâm của Copernicus khi xưa. Nhờ đó, đã không cần phải đưa thêm những lực huyền bí vào chuyển động có dạng “thòng lọng” của sao Kim, sao Thủy, vì khi đó, tất cả các ngôi sao đều chuyển động tuân theo cùng một quy luật thống nhất (định luật Kepler) – chỉ đánh đổi có 01 lợi ích thôi mà phải mất 2000 năm, trong khi ở đây, có tới 10 lợi ích sau 400 năm liệu đã “xứng đáng chưa”?

Vậy, hãy thay vật lý hiện thời bằng CĐM đi! Tại sao lại phải cố kiết ôm khư khư lấy những quan niệm “điên rồ”, “hoang tưởng”, “rối rắm” như hiện nay về photon nói riêng và về thế giới tự nhiên nói chung?

Advertisements