Công thức tính công của lực A = Fs được áp dụng cho mọi dạng lực tác động bao gồm cả lực trường thế nói chung và lực trọng trường nói riêng, khi các trường này được giả thiết gần đúng là đều. Tuy nhiên, không thấy tài liệu nào đề cập đến trường hợp không đều của trường lực thế như trường hấp dẫn của Trái Đất hay trường điện của hạt nhân nguyên tử?

Để xem chi tiết, xin hãy nhấn vào link: Xét lại khái niệm công của lực trường thế

Advertisements

(Thuyết minh đăng ký dự “Thi tuyển ý tưởng Phương án tổ chức giao thông và các giải pháp chống ùn tắc giao thông trên địa bàn thành phố Hà Nội đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030” do UBND TP Hà Nội tổ chức)

Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả số 507/2017/QTG

Quan điểm của “Con đường mới của vật lý học” (CĐM) là “đã tồn tại là phải tương tác lẫn nhau” vì “mọi thực thể vật lý đều nằm trong nhau” nên việc xem xét bất kể thực thể vật lý nào cũng đều phải trong sự tồn tại phụ thuộc lẫn nhau đó. Mỗi một đối tượng của mạng lưới giao thông, ví dụ “phương tiện giao thông” hay “người tham gia giao thông”…, đều có thể được xem như những “thực thể vật lý”. Chính vì thế, muốn giải được bài toán “chống ùn tắc của mạng lưới giao thông” thì không được phép bỏ qua các mối tương tác giữa tất cả các đối tượng tham gia giao thông với nhau. Từ đó tác giả đã tìm ra một giải pháp có thể nói chưa từng có tiền lệ, nhưng chắc chắn sẽ là giải pháp duy nhất đúng vào thời điểm hiện nay khi điều kiện hạ tầng giao thông của Hà Nội chưa thể đáp ứng được với lưu lượng quá lớn phương tiện tham gia giao thông trong 10-15 năm nữa.

Để xem chi tiết, xin hãy nhấn vào link Ý tưởng chống ùn tắc giao thông

Năm 1931, nhà toán học Kurt Gödel có một khám phá toán học được cho là mang tính bước ngoặt, gây ra những chấn động lớn tầm cỡ của thế kỷ XX – đó là định lý bất toàn (không toàn vẹn). Vậy bước ngoặt ấy là gì? Vì sao lại gây ra những chấn động lớn đến như thế?…

Tóm lại, đây là định lý về lĩnh vực số học nên việc áp dụng sang các lĩnh vực khác, đặc biệt là thế giới tự nhiên và xã hội, sẽ mắc phải rất nhiều sai lầm và ngộ nhận; từ một định lý số học của các khái niệm trừu tượng, người ta đã mở rộng cho từ các lý thuyết vật lý tới cả các đối tượng vật chất của vũ trụ, đồng nhất chúng với số học nói riêng và toán học nói chung – căn bệnh ấu trĩ của giới vật lý thế kỷ XX.

Để xem chi tiết, xin hãy nhấn vào link Định lý bất toàn

Khác với vật lý hiện đại, “Con đường mới của vật lý học” (CĐM) tuân thủ một hệ thống khái niệm cơ bản nhất quán, thống nhất theo một trình tự lô-gíc. Để giúp người đọc dễ dàng theo dõi, tác giả phác thảo sơ đồ lô-gíc mở rộng hơn so với sơ đồ trước đây, có tính đến những phát hiện mới nhất, gần đây.

Để xem chi tiết, xin hãy nhấn vào link: So do logic cac khai niem vat ly co ban

Hiện nay, theo thuyết tương đối hẹp, tốc độ trong chân không của ánh sáng được coi là một hằng số vũ trụ, không phụ thuộc vào tốc độ chuyển động của cả nguồn sáng lẫn thiết bị thu nhận…

Tốc độ ánh sáng trong chân không không phải là hằng số vũ trụ, trái lại, ngoài việc phụ thuộc vào độ chênh thế hấp dẫn vũ trụ trên tổng thể, nó còn phụ thuộc vào cường độ trường hấp dẫn cục bộ của thiên thể mà nó hiện diện tại đó. Khi rơi vào hố đen, tốc độ của ánh sáng giảm dần từ c xuống tới 0 tại chân trời sự kiện. Tốc độ ánh sáng đo được tại bề mặt Trái Đất nhỏ hơn tốc độ ánh sáng trong khoảng không gian liên sao và liên thiên hà ở mức tốc độ vũ trụ cấp II tương ứng.

Để xem chi tiết, xin hãy nhấn vào link: Toc do cua anh sang trong chan khong

Ngày 12/02/2016, trên các phương tiện truyền thông rộ lên thông tin hết sức hào hứng: “Phát hiện sóng hấp dẫn tỏa ra từ hai hố đen sáp nhập”. Người ta cho rằng những tín hiệu nhận được từ đài LIGO là bằng chứng của sóng hấp dẫn hình thành từ vụ sát nhập của hai hố đen. Tuy nhiên, người ta đã phớt lờ đi một thực tế rằng việc sử dụng LIGO chỉ có thể ghi nhận được tín hiệu điện do sự lệch pha của hai chùm tia laser ở hai nhánh của nó, nhưng không thể xác định được chính xác nguồn gốc của tín hiệu ấy là gì? Từ đâu đến? Liệu có còn nguyên nhân nào khác không?
……

Để xem chi tiết, xin hãy nhấn vào link: Nhung nghi van chung quanh viec phat hien ra song hap dan

Ta mới biết được rằng tốc độ chuyển động của các vật thể bị giới hạn bởi việc cân bằng giữa nội năng và ngoại năng trong trường hấp dẫn và nó chính là tốc độ ánh sáng trong chân không c. Vượt quá tốc độ này, vật thể sẽ tự động bị tan rã thành các hạt cơ bản là electron và positron. Nhưng còn chính bản thân các hạt cơ bản đó thì sao? Chúng không những không có tương tác hấp dẫn mà còn không có cả cấu trúc nội tại nữa thì cái gì có thể giới hạn chuyển động của nó?

Để xem chi tiết, xin hãy nhấn vào link: Hat co ban co kha nang chuyen dong nhanh hon anh sang

Thế kỷ XX đánh dấu những bước tiến lớn của loài người về khoa học-công nghệ trong đó phải kể đến là kỹ thuật vô tuyến điện (1900), vật liệu siêu dẫn (1911), điều khiển học (1940), kỹ thuật bán dẫn (1947), kỹ thuật lazer (1957), máy tính điện tử bán dẫn (1957), công nghệ thông tin (1958)… Các nhà vật lý ngộ nhận rằng chúng là thành quả của vật lý lượng tử và hiện nay, chiếm tới 30% GDP của một quốc gia phát triển, tức là dường như vật lý lượng tử đã đem lại những hiệu quả kinh tế xứng đáng với những đầu tư của xã hội trong suốt hơn một thế kỷ qua cho nó. Đó là còn chưa kể đến những hứa hẹn suốt gần 40 năm qua của các nhà vật lý lượng tử về công nghệ viễn tải lượng tử, máy tính lượng tử, v.v.. đầy tiềm năng với những tính năng mà dẫu có trong mơ cũng vị tất đã dám nghĩ tới!

Để lật tẩy sự dối trá này, tác giả sẽ điểm lại những thời khắc quan trọng của cái gọi là “vật lý lượng tử” và đối chiếu với các thời điểm ứng dụng cùng nội dung tương ứng trong khoa học-công nghệ vừa liệt kê ở trên.
….

Để xem chi tiết, xin hãy nhấn vào link: Nhưng ngo nhan ve thanh tuu cua vat ly luong tu

Vì sao trong suốt nhiều thế kỷ qua, bao nhiều nhà bác học xuất chúng, tài ba, lỗi lạc mà vẫn để cho vật lý học, thay vì tiệm cận dần tới chân lý như mong muốn của loài người thì ngày một rời xa nó? Và càng ngày càng tệ hại hơn? Thậm chí đã biến vật lý học trở thành một thứ “ngụy khoa học” che đậy cho những toan tính danh và lợi của nhóm người được mệnh danh là “các nhà vật lý (lý thuyết)”?

Để trả lời cho các câu hỏi này, tác giả cố thử lục lọi trong “đống đổ nát” của vật lý học gần 400 năm qua nhằm gắng tìm kiếm các manh mối tin cậy nhất mà tác giả gọi là những cái “bẫy chết người” trong vật lý học – là tựa đề cho bài viết này vậy. Chỉ khi nào thoát khỏi những cái “bẫy chết người” đó, vật lý học mới có cơ may thay đổi, vượt qua được cuộc khủng hoảng xuyên thế kỷ này!

Để xem chi tiết, xin hãy nhấn vào link: Nhung cai bay chet nguoi

(Bổ sung cho bài “Big Bang và những bất cập của vũ trụ học hiện đại”)

“Hơn một nửa số thiên hà lớn nhất trong khu vực vũ trụ gần dải Ngân hà đã từng va chạm và hợp nhất với những thiên hà khác để trở thành những thiên hà lớn hơn trong 2 tỷ năm qua”. Điều này trái ngược hoàn toàn với kết luận về một vũ trụ dãn nở. Nếu quả thật từng có vụ nổ lớn cách đây 13,7 tỷ năm khiến các thiên hà bay ra xa nhau, thậm chí đến nay lại còn đang tăng tốc thay vì chuyển động chậm lại, thì lực nào đủ sức khiến chúng bỗng nhiên lại chạy lại gần nhau để dẫn đến những “va chạm” như thế?

Tóm lại, sự va chạm của các thiên hà được ghi nhận này là bằng chứng thực nghiệm hùng hồn nhất về một vũ trụ không dãn nở theo cái gọi là “định luật Hubble” và công thức này chỉ là kết quả ngộ nhận sự dịch chuyển đỏ là do hiệu ứng Dopple mà không phải là do sự tổn hao năng lượng của ánh sáng lan truyền trong trường hấp dẫn vũ trụ trên khoảng cách lớn. Mà đã như thế thì học thuyết Big Bang sẽ sụp đổ vì đã có thêm chứng cứ thực nghiệm phản bác thuyết phục nhất.

Để xem chi tiết, xin hãy nhấn vào link: Thêm-một-bất-cập-của-mô-hình-vũ-trụ-dãn-nở

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Khi tập hợp “Tuyển tập các công trình nghiên cứu giai đoạn 2008-2012”, ở phần “Thay lời kết”, tác giả đăng bài thơ có câu cảm thán:

60 năm, vừa khép kín một cung tròn………………..
Hội đủ can, chi – vòng xoay trời đất.…………
Ta chỉ hận khi một mình tỉnh giấc………………
Cả thiên hạ vẫn say, chìm đắm mãi u mê?

Vậy mà mới đó lại thêm 3 năm nữa trôi qua, thêm một Báo cáo “Phát hiện bản chất vật chất tối” tại Hội nghị Vật lý Quốc tế Rencontres du Vietnam 2013 mà cục diện ấy vẫn không chút mảy may thay đổi?

Hay thật ra không phải là thiên hạ u mê mà ngược lại, họ quá “tỉnh” là đằng khác? “Tỉnh” ở chỗ, nếu là các giáo sư, viện sỹ đã có danh tiếng lẫy lừng thì việc ủng hộ “Con đường mới” có khác gì tự hủy hoại công danh của bản thân mà cả đời đã dày công vun đắp? Còn nếu là các nhà khoa học chưa đủ thành danh thì việc ủng hộ “Con đường mới” có khác gì tự đặt “bức tường” cản bước tiến cho sự nghiệp của chính mình? Vì dù muốn dù không, họ cũng phải nương theo hướng đi của các bậc thầy mới hy vọng bảo vệ được luận án? Có phải chăng bọn họ quá “tỉnh” để vun đắp cho công danh, sự nghiệp của mình mà phớt lờ khoa học, phớt lờ chân lý?

Nhưng biết làm sao được! Tác giả đành tiếp tục “một mình một ngựa rong ruổi” đi tiếp trên “Con đường mới” với 16 phát minh quý giá nữa: Giải pháp phóng tàu vũ trụ an toàn, tiết kiệm nhiên liệu; sự ảnh hưởng của hấp dẫn lên đồng hồ chỉ thời gian – một bằng chứng thực nghiệm nữa cho sự chuyển hóa qua lại giữa nội năng và ngoại năng; hố đen điện – một dạng hố đen kiểu mới, (nhờ đó mà hình thành được dipole DR siêu bền, cấu thành nên mọi hạt sơ cấp được biết đến như neutrino, neutron, proton…) v.v.. và v.v.. cho tới bản chất của hiện tượng siêu dẫn ở mọi thang nhiệt độ – đáng giá hơn bội lần những giải Nobel Vật lý đình đám, để đến hôm nay, tập hợp nên tuyển tập này, đánh dấu thêm một bước tiến dài tới tận động lực học vũ trụ vô cùng vô tận…

Cầu mong sao “muộn còn hơn không”, lịch sử sẽ không lặp lại sự chậm trễ cả ngàn năm như việc thay “thuyết Địa tâm” bằng “thuyết Nhật tâm” một lần nữa!!!

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

(Báo cáo đăng trong Kỷ yếu Hội nghị Vật lý Vật liệu toàn quốc SPMS 2015, Tp. Hồ Chí Minh)

Xuất phát từ việc xem xét lại bản chất của dòng điện trong kim loại nói riêng và trong chất rắn nói chung, tác giả đã tìm ra được bản chất thực của dòng điện – ở đây không phải là dòng các điện tử tự do, mà chỉ là dòng của các điện tử dẫn nối tiếp từ nguyên tử này sang nguyên tử khác khi có tác động của điện trường ngoài. Kết hợp với quan niệm mới về chuyển động theo quán tính là dạng chuyển động không tiêu tốn năng lượng, tương tự như chuyển động của vệ tinh trên quỹ đạo tròn xung quanh Trái đất, của các hành tinh xung quanh ngôi sao, tác giả đã khám phá ra bản chất của hiện tượng siêu dẫn với mọi thang nhiệt độ. Từ đây, bí ẩn của hiện tượng siêu dẫn nhiệt độ cao cũng được lộ diện, mở ra khả năng chế tạo vật liệu siêu dẫn nhiệt độ phòng.

Để xem chi tiết toàn văn, xin hãy nhấn vào link Mot phat hien moi ve ban chat sieu dan và bài rút gọn đăng trong kỷ yếu Hội nghị Vật lý SPMS-2015 vào link: Báo cáo tại Hội nghị

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Trong vật lý, người ta phân biệt tương tác điện tĩnh giữa hai điện tích theo định luật Coulomb và tương tác hấp dẫn giữa hai khối lượng theo định luật vạn vật hấp dẫn của Newton – là hai tương tác độc lập hoàn toàn với nhau, không có bất kỳ mối liên quan nào kể cả trong vật lý lượng tử hay cơ học tương đối tính. Tuy nhiên, đó là một quan niệm hoàn toàn sai lầm…

Để xem chi tiết, xin hãy nhấn vào link Mọt phat hien moi ve anh huong cua hap dan len tuong tác dien

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Ý nghĩ tia sáng bị lệch do hấp dẫn có từ thời Newton khi ông coi ánh sáng là hạt có khối lượng và sau này Johann Georg von Soldner (1804) tính ra được góc lệch này. Có thể thấy, việc sử dụng cơ học Newton để giải bài toán này là không phù hợp vì photon không hề thay đổi tốc độ dưới tác động của lực hấp dẫn, tức là nó không hề bị gia tốc, cho dù nó vẫn có khối lượng.

Để xem chi tiết, xin hãy nhấn vào link Su lech huong cua hat photon qua nguon hap dan manhxem bài sau hiệu đính

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Khi coi hai vật là các điểm chất đứng yên hoặc rơi tự do lên nhau, lực tương tác giữa chúng chỉ có một hướng xác định nên ngoại năng cơ và ngoại năng tổng đều chỉ có cùng chung một giá trị. Tuy nhiên, khi một trong hai vật không thể coi là điểm chất, ví dụ như Trái Đất với vật thể A trên bề mặt nó, lực tương tác giữa vật thể A với các phần tử cấu thành nên Trái Đất sẽ không theo cùng một hướng, dẫn đến một thực tế là cơ năng của nó chỉ là véc tơ tổng hợp của tất cả véc tơ cơ năng tương ứng với mỗi tương tác thành phần. Giá trị của véc tơ này sẽ nhỏ hơn tổng của modul của các véc tơ thành phần đó (là ngoại năng tổng của nó).

Để xem chi tiết, xin hãy nhấn vào link The nang hap dan cua vat the

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Hố đen được cho rằng hình thành từ sự suy sụp hấp dẫn ở giai đoạn cuối của những ngôi sao có khối lượng lớn hơn 4÷5 lần khối lượng Mặt Trời. Việc bồi tụ vật chất của thiên hà vào các hố đen sau đó sẽ được diễn ra vô thời hạn để hình thành hố đen siêu khối lượng và dẫn đến kịch bản “cái chết nhiệt” của vũ trụ. Tuy nhiên, theo “Con đường mới của vật lý học”, vũ trụ là vô cùng, vô tận nên điều đó không thể xảy ra. Nhưng như vậy, điều gì ngăn cản quá trình bồi tụ của hố đen và hồi kết cho nó là gì? Câu trả lời nằm ở động lực học hố đen, đằng sau “chân trời sự kiện” – là một trong những câu hỏi thực sự chưa có lời giải của vật lý hiện đại.

Để xem chi tiết, xin hãy nhấn vào link Su tien hoa cua ho den

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Trong lý thuyết về photon hình thành từ dipole DQ được tác giả trình bày từ trước đến nay đều xem xét chỉ từ hệ quy chiếu (HQC) khối tâm của DQ trong đó, electron và positron đều ở khoảng cách cố định so với nhau nên chúng chỉ chịu một lực tác động duy nhất là lực tĩnh điện Coulomb. Tuy nhiên, sau khi dipole đã trung hòa về điện, nó trở thành một hạt có tương tác hấp dẫn, bay với tốc độ ánh sáng và do đó, cần phải được xem xét nó trong HQC gắn với phòng thí nghiệm (Trái đất)…Khi đó, vấn đề đặt ra là liệu chuyển động của electron và positron có tạo nên các dòng điện tương ứng theo cách hiểu thông thường về dòng điện là dòng các điện tích chuyển động hay không? Và nếu có thì lực Ampere sẽ được tính đến như thế nào? … Việc tính đến một cách đầy đủ các tương tác này sẽ giúp nâng cao độ chính xác của các dự báo có liên quan, hiểu sâu sắc hơn tương tác của photon với các dạng vật chất khác sau này.

Để xem chi tiết, xin hãy nhấn vào link: Tinh den luc Ampere cho photon

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Tốc độ ánh sáng trong chân không được cho là một hằng số vũ trụ, không phụ thuộc vào trường hấp dẫn mạnh, hay yếu. Tuy nhiên, xuất phát từ việc phát hiện ra sự phụ thuộc của dịch chuyển đỏ của ánh sáng do hấp dẫn, tác giả đã tìm ra được mối liên hệ trực tiếp giữa tốc độ ánh sáng với độ chênh lệch thế năng hấp dẫn vũ trụ và qua đó, khẳng định tính hữu hạn của tốc độ ánh sáng là do thế hấp dẫn vũ trụ, cũng như dự báo khả năng ánh sáng giảm tốc độ khi đi tới các vật thể có trường hấp dẫn mạnh.

Để xem chi tiết, xin mời nhấn vào link: Toc do anh sang huu han do hap dan

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Hiện tượng dịch chuyển đỏ của ánh sáng từ các thiên hà được Hubble phát hiện ra từ năm 1929 và ông đồng nhất nó với hiệu ứng Dopler do việc chạy ra xa của chúng. Từ đây, người ta được biết đến định luật Hubble: V = HR. Đây được coi là bằng chứng thực nghiệm thuyết phục nhất về một vũ trụ đang dãn nở, ủng hộ cho học thuyết Big Bang trong suốt hơn 80 năm qua.

Tuy nhiên, bằng một cách tiếp cận khác theo quan điểm của CĐM về sự ảnh hưởng của hấp dẫn vũ trụ lên photon trong quá trình lan truyền trên các khoảng cách lớn, tác giả đã tìm ra được công thức tính toán tổn thất năng lượng của nó phù hợp với các kết quả thực nghiệm một cách hoàn hảo. Từ đây cho thấy, không có sự chạy ra xa nào của các thiên hà cả và điều này thực sự đặt dấu chấm hết cho mô hình vũ trụ dãn nở và học thuyết Big Bang.

Để xem kết quả tính toán cuối cùng, xin hãy nhấn vào link: gravity red Shift và xem toàn văn tại link: Dich chuyen do do hap dan

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Kim loại là một dạng chất rắn và cũng giống như nhiều dạng chất rắn khác, nó có cấu trúc mạng tinh thể, ở đó, các nguyên tử chiếm vị trí là các nút mạng. Nhưng có một điểm được cho là khác biệt ở chỗ, từ trước tới nay, người ta vẫn cho rằng các nguyên tử kim loại thường không giữ được các điện tử lớp ngoài cùng, khiến chúng thoát ra ngoài và trở thành các điện tử tự do, chuyển động hỗn loạn; còn bản thân nguyên tử trở thành các ion dương định vị tại các nút mạng…

Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm về khả năng ứng dụng để giải quyết các bài toán thực tế, mô hình điện tử tự do này chứa đựng khá nhiều bất cập:…

Để xem chi tiết, xin mời nhấn vào link: Bản chất của dòng điện trong kim loại ở dạng pdf.file hay ở dạng trình chiếu ppt Trình chiếu bản chất dòng điện

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Graviton trong CĐM là khái niệm chung để chỉ “lượng tử khối hấp dẫn” được hình thành từ dipole rơi (DR) và dipole quay (DQ) gồm hai hạt cơ bản không có tương tác hấp dẫn mà chỉ có tương tác điện là electron và positron. Các DQ sau này trở thành photon với các đặc tính kỹ thuật đã được xem xét tương đối kỹ. Trong khi đó, việc hình thành DR mới chỉ dừng lại ở mức độ tiên đoán mà chưa tìm ra được cơ chế khả dĩ để khẳng định nó, mặc dù sự tồn tại của nó thật sự quyết định tới việc hình thành nên tất cả các hạt sơ cấp trong thế giới hạ nguyên tử như proton, neutron v.v.. Và cũng qua đó mới có thể thật sự kết nối được tương tác điện với tương tác hạt nhân mạnh và yếu để hoàn tất việc thống nhất 4 tương tác có trong tự nhiên như đã được tiên đoán. Tuy nhiên, các yếu tố quyết định cho việc hình thành DR đã không được phát hiện ra trong một thời gian dài sau đó…

Để xem chi tiết, xin mời nhấn vào link sau: Sự hình thành graviton

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Chúng ta biết trong vật lý, không có cách gì để có thể đo đạc được trực tiếp kích thước của electron cũng như positron, vì nó quá nhỏ bé, nên người ta dựa vào việc tính toán từ năng lượng điện trường của electron theo lý thuyết trường (1) và năng lượng toàn phần của nó (2) theo thuyết tương đối hẹp của Einstein…

Với việc cân bằng (1) và (2), người ta nhận được bán kính của electron có giá trị ~2,8×10-15 m và thường được gọi là “bán kính cổ điển”…

Tuy nhiên, có một thực tế là công thức (1) chỉ là năng lượng điện trường trong toàn bộ không gian không chứa một điện tích nào khác, tính từ bề mặt hình cầu bán kính re của electron tới vô cùng, chứ bản thân nó không bao hàm nội năng của electron như trong công thức (2); trong khi đó, công thức (2) lại chỉ chứa nội năng và động năng chuyển động của electron trong một không gian tự do, không có một điện trường nào, tức là về nguyên tắc không thể chứa năng lượng điện trường của electron được và do đó, việc cân bằng (1) và (2) là hoàn toàn khập khiễng.

Để xem chi tiết, xin mời nhấn vào link sau: Bán kính của các hạt cơ bản

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Từ khi xuất hiện thuyết tương đối hẹp (SR) tới nay, người ta thường nói tới khái niệm “không-thời gian” (space-time) thay cho khái niệm “không gian” (space) – là “nơi” mà chúng ta cùng cả vũ trụ đang tồn tại, tức là thay vì một không gian 3 chiều độc lập với thời gian (time) là một dạng “không gian” khác có tới 4 “chiều”, mà thời gian chỉ là một “chiều” trong đó. Điều này rất khó hình dung đối với một người bình thường và dường như trái với các “suy nghĩ lành mạnh”?

Nhưng không gian là gì? Thời gian là gì? Mà sao chúng lại có thể gắn kết được với nhau như vậy? Sự thể thế nào, tác giả sẽ thử cố gắng phân tích trong bài ngắn này.

Để xem chi tiết, xin hãy bấm vào link: Có hay không “không-thời gian”?

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Như chúng ta đã biết khi vật chất tập trung với khối lượng hấp dẫn đủ lớn Mk trong một khoảng không gian bán kính Rkh sao cho động năng thoát cực đại của vật (tương ứng với vận tốc bằng vận tốc ánh sáng c) sẽ bị cân bằng bởi thế năng của vật tại bán kính đó.

Nhưng ở đây ta đang nói tới hố đen với thế năng tại bề mặt bằng động năng của vật với vận tốc thoát bằng c đối với tương tác điện chứ không phải tương tác hấp dẫn

Để xem chi tiết, xin hãy nhấn vào link: Phát hiện một loại hố đen mới

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Hiện nay, giới khoa học tin tưởng tuyệt đối vào lý thuyết cho rằng vũ trụ được sinh ra từ một “Vụ nổ lớn” (Big Bang) theo đó, 13,7 tỷ năm về trước, từ một “điểm” kích thước nhỏ hơn cả một nguyên tử, nhưng “không có gì”, bỗng nhiên “phát nổ” và sinh ra vật chất, không gian, thời gian để rồi sau đó hình thành nên tất cả các ngôi sao, các thiên hà và cả vũ trụ dãn nở dần từng ngày…

….

Cuối cùng, tác giả thật tình kêu gọi: Hãy từ bỏ Big Bang và vũ trụ dãn nở để quay trở về với một vũ trụ “vô cùng, vô tận, không tự nhiên sinh ra, không tự nhiên mất đi” của triết học duy vật biện chứng đã được CĐM cụ thể hóa trong các quy luật vật lý mới được phát hiện, phù hợp một cách tuyết đối với tất cả các bằng chứng thực nghiệm đã có. Khi đó, sẽ không còn phải lãng phí thời gian, tiền của và nhân lực vào những việc vô bổ là đi tìm kiếm “năng lượng tối” được cho là chiếm tới 74% vũ trụ, mà thực ra là hoàn toàn không tồn tại; nó làm ta liên tưởng tới việc một con mèo cứ quào quào đằng sau cái gương để tìm một con mèo khác mà không biết rằng đó chỉ là ảo ảnh của chính mình…

Để xem toàn văn, xin quý vị hãy nhấn vào link sau: Big Bang

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

“Hiệu ứng con bướm” (Butterfly effect) – một hiệu ứng giả định trong khí tượng học với nội dung đại thể như sau: “Liệu việc đập cánh của một con bướm ở Brasil có gây ra cơn lốc ở Texas hay không?

(Xem ở: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)

“Hiệu ứng con bướm” nói riêng và lý thuyết hỗn độn nói chung (bao gồm cả lời giải của Poincaré) mắc phải một sai lầm mang tính phổ biến xuyên suốt lịch sử nhân loại cho đến tận ngày hôm nay: Một tác động có thể nhỏ bao nhiêu tuỳ ý cũng có thể gây nên một tác dụng tương ứng với nó.

Chúng ta được biết đến định luật vạn vật hấp dẫn của Newton, định luật tương tác tĩnh điện của Coulomb… theo đó khi khoảng cách giữa các vật thể tiến xa vô cùng, thì lực tác động giữa chúng mới tiến tới không. Điều đó có nghĩa là không có bất cứ một hạn chế nào về khoảng cách giữa các vật thể để khiến cho chúng có thể “thoát” khỏi nhau được. Và vì vậy, dương như lẽ đương nhiên là chúng sẽ gây nên cho nhau những tác dụng nhất định mà ta có thể gọi là “hậu quả”.

Những định luật này thật ra mới chỉ có thể kiểm nghiệm được trên những khoảng cách hết sức khiêm tốn trong khả năng của con người trên Trái đất, nhưng bằng vào tư duy theo kiểu “quy nạp không đầy đủ”, con người tự cho phép mình mở rộng ra cho những khoảng cách lớn tuỳ ý, mà quên mất một điều: phép quy nạp không đầy đủ chỉ tin cậy trong phạm vi hữu hạn bao gồm trong những giới hạn đã được thực nghiệm kiểm chứng bằng các phương tiện đo tin cậy.

Điều mấu chốt nhất còn thiếu sót trong tư duy nhận thức của nhân loại về các hiện tượng tương tự như thế này của thế giới tự nhiên chính là đã không nhìn thấy “quy luật lượng đổi, chất đổi” của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Trong vật lý, quy luật này đã được tác giả lượng hoá bởi “nguyên lý tác động tối thiểu” báo cáo tại Hội nghị Quốc tế IMFP 2005 tại Kuala Lumpur, Malaysia.

(Quý vị có thể xem chi tiết bằng tiếng Anh tại link:
https://vuhuytoan.files.wordpress.com/2007/07/1927least_action.pdf,
hoặc bằng tiếng Việt tại link: https://vuhuytoan.wordpress.com , chuyên mục “Về bản thân”).

Nguyên lý này được phát biểu ở dạng sau: “Để thực thể vật lý có thể thay đổi trạng thái năng lượng thì tác động lên nó phải không được nhỏ hơn tác động tối thiểu tương ứng với nó.

Đối với thế giới vi mô, “tác động tối thiểu” này chỉ có một giá trị, đó là hằng số Planck h, vì mọi tương tác chỉ liên quan tới điện tích nguyên tố (điện tích có giá trị nhỏ nhất bằng điện tích của electron). Nhưng đối với thế giới vĩ mô, các vật thể rất khác nhau nên tác động tối thiểu của chúng cũng rất khác nhau, không có chung một giá trị nào. Một ví dụ đơn giản: Bạn ngồi trên xe máy và vặn ga; xe của bạn sẽ không hề nhúc nhích một milimét nào cho tới khi tay ga đủ lớn – xe bạn sẽ chuyển động với một tốc độ (động năng) ban đầu hữu hạn, mà không thể nhỏ bao nhiêu tuỳ ý – đó chính là “tác động tối thiểu” mà ta đang nói tới.

Áp dụng vào với trường hợp này có thể thấy rõ “Hiệu ứng con bướm” chỉ là một kết quả toán học không hơn không kém; nó hoàn toàn phi thực tế. Tác động của con bướm (đập cánh ở Brazil) không vượt qua được “tác động tối thiểu” để hình thành nên “cơn lốc ở Texas” thì nó sẽ chẳng có tác dụng gì cả. Vì vậy, nhất thiết phải xác định được “tác động tối thiểu” cho các hiện tượng tự nhiên (lốc xoáy, bão tố, sóng thần v.v..) thì mới hy vọng dự báo được đúng đắn các hiện tượng đó, nhằm giảm thiểu các thiệt hại mà con người đang phải gánh chịu.

Sự lầm lẫn giữa toán học (như một mô hình của thế giới tự nhiên) với chính thế giới tự nhiên đó là “căn bệnh thế kỷ” trầm kha, làm sai lệch một cách nghiêm trọng nhận thức của nhân loại về thế giới. Hy vọng tới đây, những tư tưởng mới của “Con đường mới của vật lý học” sẽ được cập nhật cho các ngành khoa học ứng dụng khác để phục vụ cho lợi ích của con người trên “hành tinh xanh” hiếm hoi này của vũ trụ.

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Để giúp bạn đọc hình dung một cách cụ thể hơn những sửa đổi mà CĐM đã thực hiện đối với vật lý học cổ điển, dưới đây, tác giả tạm thời liệt kê những phương trình cơ bản có thể sử dụng trong tính toán thực tiễn. Đây cũng chính là những bước đi đầu tiên trên “Con đường mới của vật lý học”.

Để xem chi tiết, xin nhấn vào link sau: Nhung phuong trinh co ban

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Photon 1_2
Dưới đây, tác giả liệt kê những lợi ích mà mô hình photon là dipole này đem lại:

1- Giải tỏa khúc mắc về cái gọi là “lượng tử năng lượng bức xạ” (“một cục năng lượng của chẳng cái gì cả” do nguyên tử “bức xạ” ra như người ta vẫn chấp nhận), vì E = hv cũng chỉ là một phần năng lượng mà photon – là một hạt vật chất – có được để trao đổi trong các tương tác thôi; năng lượng toàn phần của photon phải là cỡ ~ 4mec2 kia (với me ~ 9,1×10-31 kg – là khối lượng quán tính của điện tử trong trường điện; c ~ 3×108 m/s – là tốc độ của ánh sáng trong chân không).

2- Giải tỏa khúc mắc về lưỡng tính sóng hạt của ánh sáng; giải thích được cả các bức tranh nhiễu xạ của ánh sáng lẫn hiện tượng quang điện chỉ bằng tính chất hạt mà không cần đến cơ học lượng tử.

3- Giải thích được vì sao photon không có khối lượng quán tính trong trường điện, nhưng lại có khối lượng quán tính trong trường hấp dẫn nên bị trường hấp dẫn làm lệch hướng chuyển động mà không cần đến thuyết tương đối rộng.

4- Giải thích được vì sao tốc độ của photon trong chân không lại là giới hạn tốc độ chuyển động của mọi vật thể, xét từ góc độ vật lý chứ không phải từ phương trình toán học

5- Giải thích được vì sao tốc độ của ánh sáng trong chân không lại không phụ thuộc vào tốc độ nguồn sáng chứ không phải chấp nhận như một định đề của thuyết tương đối hẹp.

6- Không cần phải dùng tới 2 lý thuyết (vốn không dung hòa với nhau như cơ học lượng tử và thuyết tương đối rộng) mới tạm coi là giải thích được hành xử của photon như hiện nay. Nói “tạm coi” là vì cả hai lý thuyết này đều chưa giải thích được hiện tượng photon chui được qua rây nano có lỗ nhỏ hơn 1/2 bước sóng của nó; chưa giải thích được chính xác hiệu ứng Doppler ngang đối với ánh sáng, chưa giải thích được sự ảnh hưởng trái ngược nhau của hấp dẫn lên hai loại đồng hồ sử dụng khác nhau về nội năng và ngoại năng, bất lực trước cơ chế ánh sáng khi rơi vào hố đen v.v..

7- Góp phần làm sáng tỏ sự hình thành tương tác hấp dẫn từ tương tác điện tàn dư của hai hạt cơ bản (là electron và positron) và do đó thống nhất được tương tác hấp dẫn với tương tác điện. Qua đó, xác định được lượng tử khối lượng hấp dẫn bằng 2me ~ 1,82×10^-30 kg. Điều này cũng có nghĩa là không cần đến hạt Higg để đem lại khối lượng cho các hạt cơ bản trong khi cũng còn chưa biết hạt gì đây sẽ đem lại khối lượng cho chính hạt Higg đó?

8- Tìm ra được bản chất của vật chất tối – đó chính là photon, nhờ đó đã bổ sung thêm 22% vào với 4% vật chất mà con người thấy được cho đến nay.

9- Giải thích được năng lượng tối – phổ độ trưng của các ngôi sao dịch chuyển về phía đỏ mà bị nhầm là sự gia tốc của chúng do nguồn “năng lượng tối” nào đó gây nên phản hấp dẫn. Sự dịch chuyển đỏ không liên quan gì tới tốc độ chuyển động ra xa của các thiên hà mà chỉ đơn thuần là do sự quay chậm lại của photon khi lan truyền trong trường hấp dẫn. Đối với photon, không có chuyển động nào là “theo quán tính” với nghĩa là “với trạng thái năng lượng không đổi” như các dạng vật chất thông thường cả, vì vậy, trạng thái năng lượng luôn bị thay đổi dẫn đến thất thoát – là nguyên nhân của dịch chuyển đỏ. Trong khi đó, các ngôi sao sau khi sinh ra lại nguội dần đi dẫn đến dịch chuyển đỏ sẽ tăng dần theo thời gian chứ chẳng có sự tăng tốc chạy ra xa nào cả. Như vậy, đã bổ xung thêm nốt 74% thành phần của vũ trụ để thành 100% – nhờ ánh sáng tất cả vũ trụ đều đã trở nên SÁNG.

10- Tiên lượng được nguồn năng lượng sạch, vô tận thay thế nguồn nhiên liệu hóa thạch để chế tạo động cơ photon, không cần tới các nhà máy điện với các đường dây tải điện chằng chịt như hiện nay.

Tất cả những điều này khiến ta liên tưởng tới việc thay hệ thống Địa tâm của Ptoleme bằng hệ thống Nhật tâm của Copernicus khi xưa. Nhờ đó, đã không cần phải đưa thêm những lực huyền bí vào chuyển động có dạng “thòng lọng” của sao Kim, sao Thủy, vì khi đó, tất cả các ngôi sao đều chuyển động tuân theo cùng một quy luật thống nhất (định luật Kepler) – chỉ đánh đổi có 01 lợi ích thôi mà phải mất 2000 năm, trong khi ở đây, có tới 10 lợi ích sau 400 năm liệu đã “xứng đáng chưa”?

Vậy, hãy thay vật lý hiện thời bằng CĐM đi! Tại sao lại phải cố kiết ôm khư khư lấy những quan niệm “điên rồ”, “hoang tưởng”, “rối rắm” như hiện nay về photon nói riêng và về thế giới tự nhiên nói chung?

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Báo cáo tại Hội nghị Vật lý kỹ thuật và ứng dụng toàn quốc lần thứ III, 2013

Xuất phát từ cách đặt lại vấn đề về động lực học các vật thể chuyển động với khối lượng thay đổi, cùng với sự bất đồng nhất của không gian lân cận bề mặt Trái đất, tác giả đã tính toán lại chuyển động của tên lửa vũ trụ và phát hiện ra nhiều vấn đề có tính “kinh điển” từ trước tới nay không còn đúng nữa và qua đó, đã đề xuất 1 giải pháp phóng tàu vũ trụ ưu việt hơn so với cách phóng truyền thống..

Để xem Báo cáo tóm tắt tại Hội nghị Vật lý Kỹ thuật toàn quóc 2013, xin quý vị hãy nhấn vào link sau: Giải pháp phóng tàu vũ trụ an toàn, tiết kiệm, hoặc xem toàn văn ở link sau: Giai phap phong tau vu tru_full

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Để khởi đầu cho việc nghiên cứu tương tác của nguyên tử với photon theo định hướng của CĐM, sao cho phù hợp với cả thực nghiệm, lẫn lô-gíc khoa học nhằm loại bỏ những quan niệm siêu hình của cơ học lượng tử, tác giả viết bài cụ thể hoá trạng thái năng lượng của electron trong nguyên tử và qua đó thấy rõ tính thống nhất giữa thế giới vi mô và vĩ mô.

Để xem toàn văn, xin quý vị hãy nhấn vào link sau: Trạng thái năng lượng nguyên tử

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Trong vật lý hiện đại, người ta quan niệm rằng thành phần của vũ trụ bao gồm: 4% vật chất (trong các sao, hành tinh, thiên thạch, bụi vũ trụ và neutrino), 22% vật chất tối và 74% năng lượng tối…

Khi quan sát chuyển động của các ngôi sao trong dải Ngân hà, Jan Oort (năm 1932) đã phát hiện ra rằng các ngôi sao ở xa tâm dải Ngân hà không chuyển động chậm dần như tính toán của cơ học Newton mà lại hầu như không đổi, và hiện tượng này được quan sát thấy ở tất cả các thiên hà và hơn thế nữa: tốc độ quay của những ngôi sao bên ngoài của nhiều thiên hà thậm chí còn lớn hơn một cách khó hiểu.

Mặc dù vậy, đã 80 năm nay, dạng vật chất này vẫn chưa được khám phá và lẽ ra sẽ vẫn còn là một bí ẩn thách đố của vật lý hiện đại trong thế kỷ XXI này, nhưng nhờ CĐM, rút cục đã có lời giải đáp cuối cùng

Để xem toàn văn, xin mời quý vị nhấn vào link sau: Khám phá bản chất của vật chất tối; hoặc dưới dạng PowerPoint DISCOVERING THE NATURE OF THE DARK MATTER

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 378/2016/QTG)

Thời gian trong thuyết tương đối rộng (GR) chỉ là một continnum trừu tượng, thuần tuý toán học, nhưng bằng cách nào lại thay thế được cho “thời gian vật lý”, là cái do đồng hồ chỉ ra, là vấn đề chưa được giới vật lý quan tâm. Bằng sự phân tích nguyên tắc làm việc về phương diện kỹ thuật của các loại đồng hồ khác nhau và đối chiếu với hiệu ứng “thời gian chậm lại” mà GR tiên đoán, tác gỉa đã phát hiện ra sự trái ngược nhau do ảnh hưởng của hấp dẫn lên hai nhóm đồng hồ khác nhau, dẫn đến một kết luận có tính nguyên tắc về sự thống nhất giữa tương tác hấp dẫn với ba tương tác còn lại – là đề tài còn bỏ ngỏ của vật lý học hiện đại…
…và đấy chính là manh mối quan trọng, nếu như không nói là quyết định, mà tác giả muốn gửi gắm tới cộng đồng vật lý.

Để xem toàn văn, xin quý vị hãy nhấn vào link sau: Một phát hiện mới về ảnh hưởng của hấp dẫn lên đồng hồ

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 3794/2012/QTG)

Toán học là một công cụ không thể thiếu đối với vật lý lý thuyết nhằm nghiên cứu các quy luật vận động của thực tại khách quan, nhưng bất quá nó cũng chỉ là mô hình chứ không thể thay thế được thực tại khách quan. Sự không phù hợp trong nhiều trường hợp cần phải được tính đến chứ không thể nhắm mắt làm ngơ. Trong bài, tác giả đã hệ thống hoá những bất cập do sử dụng đại số véc tơ làm mô hình trong cả tĩnh học, lẫn động học chất điểm của vật lý cổ điển dẫn đến những bất cập không chỉ trong cơ học kết cấu, mà trong cả động lực học chất điểm Newton.

Để xem chi tiết, xin mời quý vị bấm vào link: Những bất cập khi áp dụng đại số véc tơ vào vật lý

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 3794/2012/QTG)

Mục đích cuối cùng của vật lý lý thuyết là tìm ra được mô hình vũ trụ trong đó chúng ta đang sống, qua đó mô tả được các dạng vật chất từ những thành phần cơ bản nhất (hạt cơ bản) cho tới những cấu trúc vật chất lớn nhất như thiên hà, phản ánh được bản chất vật lý của mọi quá trình vận động từ vi mô đến vĩ mô, các quy luật chung nhất của những vận động đó…

Đơn giản hơn, chính xác hơn, gần với thực tế hơn: phù hợp với tất cả các “chứng cứ” thực nghiệm được biết cho tới nay và không mắc phải các nghịch lý kinh điển của VLHĐ – như thế đã đủ để “bỏ phiếu” bầu chọn cho CĐM chưa?

Để xem toàn văn, xin mời quý vị nhấn vào link sau: So sánh hai mô hình vũ trụ của VLHĐ và của CĐM

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 3794/2012/QTG)

Giải thưởng Nobel vật lý năm nay rất may là được trao cho các công trình thực nghiệm chứ không phải lý thuyết, nên mặc dù cách hành văn và diễn giải các thí nghiệm trong “Mô tả khoa học của giải Nobel vật lý 2012” vẫn vay mượn những thuật ngữ của vật lý lượng tử, nhưng không vì thế mà làm thay đổi được bản chất vật chất của thế giới tự nhiên hữu hình: chúng vẫn tuân theo các quy luật của vật lý cổ điển, chỉ có điều ở mức tinh tế hơn theo quy luật lượng đổi chất đổi của chủ nghĩa duy vật biện chứng mà thôi.

Chính vì thế, có thể nói các công trình thực nghiệm được trao giải lần này về thực chất là bằng chứng hùng hồn về sự cáo chung của cái gọi là “vật lý lượng tử”, mở đầu cho sự cáo chung của “vật lý hiện đại” trong thời gian không xa nữa…

Xin mời các bạn xem toàn văn tại đây: Giải Nobel vật lý 2012 và phép biện chứng duy vật

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 3794/2012/QTG)

Do gần đây có rất nhiều người không chuyên về vật lý, nhưng lại yêu thích môn khoa học này, muốn tìm hiểu về CĐM, nên tác giả lập chuyên mục này hy vọng sẽ giúp ích được một chút gì đó.

Xin mời quý vị hãy nhấn vào các link sau:

– Chuyên đề 1: Thí nghiệm rơi tự do và khe Young, cần một cuộc “cách mạng” cho vật lý học? Tại sao nói vật lý hiện đại lâm vào tình trạng khủng hoảng?

XÉT LẠI THÍ NGHIỆM RƠI TỰ DO

XÉT LẠI THÍ NGHIỆM KHE YOUNG

– Chuyên đề 2: Chân lý và nhận thức chân lý

– Chuyên đề 3: Sự tồn tại phụ thuộc lẫn nhau trong vật lý

– Chuyên đề 4: Thảm họa số âm trong vật lý

– Chuyên đề 5: Quan hệ giữa nội năng và ngoại năng

– Chuyên đề 6: Trả lại vật lý cho vật lý

– Chuyên đề 7: Có hay không “không-thời gian?”

– Chuyên đề 8: Nguồn năng lượng sạch, vô tận trong tầm tay

– Chuyên đề 9: Những cái “bẫy chết người” trong vật lý học

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 3794/2012/QTG)

Trong bài: Năng lượng của thực thể vật lý trong trường lực thế, tác giả đã thực hiện được việc phân tích các trạng thái năng lượng của thực thể vật lý trong một số các trường hợp đặc trưng thường gặp trong vật lý. Tuy nhiên, vẫn còn tồn đọng một số vấn đề chưa giải quyết triệt để, cụ thể là:

– Có tồn tại một giá trị tốc độ chuyển động tới hạn chung Vk cho mọi vật thể khi chúng cùng đạt tới trạng thái nội năng cân bằng với ngoại năng hay không? Nếu có thì tốc độ tới hạn ấy có trùng với tốc độ ánh sáng trong chân không c hay không? Việc mặc nhiên thừa nhận Vk = c tuy không sai, nhưng chưa chặt chẽ

– Kết luận gì về “nguyên lý tương đối” khi xem xét tới trạng thái năng lượng của thực thể vật lý trong trường lực thế (HQC vật chất) chứ không phải là trong các HQC quán tính?

Trong bài này, tác giả sẽ cố gắng giải quyết nốt các tồn đọng này để “Con đường mới của vật lý học” ngày càng hoàn thiện hơn, làm cơ sở để xem xét tất cả các hiện tượng trong tự nhiên mà con người đã, đang và sẽ phải tiếp cận.

Để xem chi tiết, mời các bạn bấm vào đây: PHẦN BỔ SUNG_2

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 3794/2012/QTG)

Để hiểu rõ hơn về photon và các hiệu ứng liên quan đến nó theo quan điểm của CĐM, tác giả lập chuyên mục này với các bài viết được cập nhật dần theo thời gian. Xin quý vị hãy click vào các link dưới đây:

1- Bố cục năng lượng của photon (in Vietnamese); Energy disposition of photon (in English)

2- Năng lượng của photon trong trường hấp dẫn(in Vietnamese); Photon energy in gravitational interaction (in English)

3- Tần số của photon

4- Khối lượng của photon

5- Thí nghiệm bức xạ và hấp thụ photon

6- Photon chính là “vật chất tối”

7- Tốc độ ánh sáng trong chân không không phải là hằng số

8- Năng lượng của photon trong tương tác điện (chưa có bài)

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 3794/2012/QTG)

Hầu như mọi vật đều đều có khối lượng hấp dẫn, ngoại trừ electron và positron, nhưng liệu khối lượng hấp dẫn này có bị lượng tử hóa giống như điện tích của điện trường không? Cũng tức là có tồn tại “lượng tử khối lượng hấp dẫn” không? Ở đây ta không đề cập tới hạt graviton mà vật lý hiện đại coi là hạt mang tương tác hấp dẫn, mà là một hạt có khối lượng nhỏ nhất để rồi từ đó cấu tạo nên các hạt khác có khối lượng hấp dẫn bằng bội lần những hạt “lượng tử” ấy. Nếu có những hạt “lượng tử hấp dẫn” này thì cái được gọi là “hạt của Chúa” – hạt Higg, sẽ tự động bị loại bỏ, không còn lý do để tồn tại…

Xem toàn văn tại đây: Luong tu khoi luong hap dan

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 3794/2012/QTG)

Đây là thông báo của tác giả về một khả năng ứng dụng “Con đường mới của vật lý học” vào thực tế cuộc sống, đó là việc phát hiện ra nguồn năng lượng vô tận cho tương lai của loài người: năng lượng từ nội năng của photon chứ không phải chỉ là một phần năng lượng nhỏ bé của nó mà cho đến nay chúng ta vẫn biết đến theo công thức E = hv. Nguồn năng lượng mới này nếu được giải phóng có thể lớn hơn phần năng lượng đó hàng ngàn lần. Khả năng khai thác nguồn năng lượng mới này là nhờ công nghệ của những năm đầu của thế kỷ XXI mà tác giả mới được biết tới gần đây đã mở ra cơ hội biến ý tưởng thành hiện thực.

Để xem chi tiết, mời các bạn bấm vào đây:

1- Bài đăng trên báo Nhân dân cuối tuần hay trang định dạng pdf

2- Bản tóm tắt (Phát hiện nguồn năng lượng mới) (tiếng Việt) và Discovery of new energy (in English)

3- Bản đầy đủ (dưới dạng báo cáo gửi HNKH&CN lần I, Trường Đại học Tài nghuyên và Môi trường, Tp HCM)

4- Phóng sự trên kênh TTXVN

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 3794/2012/QTG)

Cho đến nay, dù vật lý học được xem là đã tiến những bước dài trong việc tìm hiểu bản chất các lực cơ bản của tự nhiên nhằm tiến tới thống nhất chúng, nhưng bản chất của lực quán tính vẫn còn là một ẩn số. Trên cơ sở phân tích hiện tượng quán tính theo quan điểm “tồn tại phụ thuộc lẫn nhau” của Đạo Phật và của Chủ nghĩa Duy vật biện chứng có tính đến đặc tính véc tơ của động năng, tác giả đã chứng minh một cách rõ ràng sự tồn tại thực sự của lực quán tính chứ không phải là “ảo” như bấy lâu nay vẫn quan niệm. Về thực chất, bản chất của “lực quán tính” đã được khám phá: nó là kết quả “phản ứng” của cả vũ trụ với tác động lên vật đã gây ra gia tốc chuyển động cho nó. “Kẻ dấu mặt” này cuối cùng cũng đã lộ diện nhờ “khối lượng quán tính phụ thuộc” chứ không phải là theo “nguyên lý Mach” với cái gọi là “trường quán tính” mang tính nhân tạo, không có trong thực tế.

Đây là một bài bổ sung đặc biệt quan trọng cho sự phát triển tiếp các công trình trước đây của tác giả theo hướng “Con đường mới của vật lý học”, nhằm tiến tới bổ khuyết những thiếu sót trong phần trình bầy về các định luật cơ bản của động lực học

Xem toàn văn tại đây: BAN CHAT LUC QUAN TINH

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 3794/2012/QTG)

Xét thấy những khái niệm cơ bản của vật lý học đã được tác giả đề cập đến trong bài “Cơ sở của Vật lý học hiện đại” ở blog này dường như quá ngắn gọn, khiến người đọc chưa hiểu được. Vì vậy, tác giả quyết định dịnh sang tiếng Việt nguyên bản tiểu luận bằng tiếng Nga mà tác giả đã thực hiện từ năm 1988. Nếu mọi người hiểu được các vấn đề mà bài này đề cập thì tự nhiên sẽ thấy tất cả những khái niệm chủ chốt mà các nhà vật lý hiện đại đang sử dụng đã sai lệch như thế nào với thực tại khách quan và, do đó, đã đẩy vật lý đến chỗ lầm đường, lạc lối – biến vật lý từ một khoa học nghiên cứu thế giới tự nhiên sống động thành một thứ “giả khoa học” siêu hình, thần bí… – là kết quả từ những hoang tưởng của các nhà toán học lỗi lạc trong suốt thế kỷ XX vừa qua.

Như được biết, tất cả các phạm trù xuất hiện và phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội như là những hình thức vạn năng của tư duy. Nhờ các phạm trù, triết học nghiên cứu và xác lập các tính chất chung, các mối liên hệ và tương quan giữa các sự vật, các quy luật phát triển tác động trong tự nhiên, trong cả xã hội, lẫn trong tư duy con người. “Vật chất”, “vận động”, “không gian” và “thời gian” hình thành như những phạm trù triết học cơ bản đầu tiên; chúng cũng giống như các phạm trù khác, không hề là các hiểu biết bị đông cứng. Cái đặc biệt năng động chính là nội dung của phạm trù, bởi vì nó là kết quả của nhận thức và thực tiễn tất cả lịch sử đã đi qua của loài người.

Hiện nay, nhiều nhà lý luận cố gắng lý giải những hiện tượng phức tạp nhất, xuất hiện trong khuôn khổ vũ trụ học hiện đại, có liên quan tới các vấn đề tính chất không gian-thời gian của vật chất. Những nỗ lực ấy từ quan điểm của phép biện chứng duy vật là không đạt và mang tính gượng ép thuần tuý.

Mục đích chính của tiểu luận này là cố gắng phân tích nội dung của các phạm trù triết học cơ bản trên cơ sở trình độ phát triển của khoa học và kỹ thuật trong thời gian gần đây nhất. Những nội dung của các phạm trù triết học cơ bản mà tác giả đề xuất một cách chuẩn xác hơn không chỉ giúp hiểu biết tốt hơn về thế giới xung quanh ta, mà còn tạo cơ sở cứu nguy cho vật lý học thế kỷ XXI khỏi sự sụp đổ, cụ thể là nhờ nó mà sau này đã hình thành nên “Con đường mới của vật lý học” này vậy.

Xem toàn văn tại đây:TIEU LUAN TRIET HOC – (bản tiếng việt), được dịch từ nguyên bản tiếng Nga tại đây: РЕФЕРАТ ФИЛОСОФИИ

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 3794/2012/QTG)

Báo cáo tại Hội nghị Quang học & Quang phổ toàn quốc lần thứ 6, Hà Nội, 8 – 12 tháng 11 năm 2010, được in trong “Kỷ yếu hội nghi”

Cho đến nay, photon được coi là một hạt cơ bản có kích thước – bằng bước sóng của nó, tức là có thể rất lớn: tới hàng trăm, hàng ngàn km (?), nhưng cấu trúc của nó lại chưa bao giờ được bàn đến? Như thế phải chăng là sự thiếu lành mạnh?

Xem toàn văn tại đây: – Bản tiếng Việt: Cau truc Photon BC HNVL Đính chính khối lượng của photon – Translation in English: Structure of photon

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 3794/2012/QTG)

Tóm tắt: Từ thực tế các vụ sập đổ cầu ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới từ trước tới nay, các tác giả thực hiện kiểm tra lại và phân tích những bất cập của việc áp dụng quy tắc hình bình hành lực mà cơ học kết cấu đang phải đối mặt cả từ hai phương diện: thực tế và lý thuyết. Những bất cập này có thể là nguyên nhân dẫn đến sai sót trong kết quả tính toán các kết cấu chịu lực hiện đang được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam và trên thế giới.

Abstract: For the factual bridges collapsed cases from the previous years to now, the authors implement to recheck and analyze the difficulties for applying the rules of the parallelogram of forces, which the structural mechanics is facing from 2 aspects: Practice and theory. These difficulties may be the reasons leading to the shortcomings in the calculation results of the loading structures applied widely in Vietnam and over the world.

Xem toàn văn tại đây:

1- MÁY Ý KIẾN VỀ QUY TẮC HÌNH BÌNH HÀNH

2- PHAN TICH BAI TOAN CONXON

Để viết các comments cho dễ đọc, người viết cần phân định rõ các câu trích dẫn với nội dung người viết trình bày. Các câu trích dẫn cần được tách ra bằng thẻ lệnh mở đầu câu và thẻ lệnh kết thúc câu như được trình bày cụ thể tại link này Cách sử dụng thẻ lệnh.

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 3794/2012/QTG)

Qua một thời gian trao đổi trên forum có thể thấy còn một số quan niệm thiếu lành mạnh xung quanh khái niệm “thế năng” vẫn còn đang phổ biến trong cộng đồng vật lý, cản trở việc tiếp cận một cách đúng đắn tới bản chất của vấn đề đã được trình bày tại bài Xét lại định luật bảo toàn cơ năng của vật thể trong trường lực thế”. Tác giả viết bài bổ sung này với hy vọng sẽ góp phần “tháo gỡ” những vướng mắc cuối cùng này.

Xin hãy nhấn vào đây: PHAN BO SUNG

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 3794/2012/QTG)

Để cố nguỵ biện cho những “ý tưởng điên rồ” của mình, các nhà pseudo-phyics và các “fan hâm mộ” của họ luôn dựa vào cái gọi là “thực nghiệm khắt khe” hàng thế kỷ. Vì vậy, muốn “đưa vụ việc ra ánh sáng” có lẽ không có gì tốt hơn là quay lại với chính cái được coi là “thực nghiệm khắt khe” này xem chúng có thật sự “khắt khe”, hay chỉ là cái cảnh “thầy bói xem voi”? “thấy cây mà chẳng thấy rừng”? Và liệu chúng có “hiển nhiên” tới mức như “Mặt trời quay quanh Trái đất” của một thời mông muội hay không?

Sau đây là một loạt bài viết về các thí nghiệm đó sẽ cho các quý vị thấy “chân tướng” của cái gọi là “thực nghiệm khắt khe đó”: nó sai một cách thảm hại; nó “ấu trĩ” một cách đáng thương! Tất cả chung quy chỉ bởi vì nhà thực nghiệm thì không hiểu được lý thuyết, còn nhà lý thuyết thì lại không biết “xoay sở” với thực nghiệm! Họ chỉ tin tưởng “mù quáng” lẫn nhau và nhất là vào các “Thần tượng”: Galileo, Newton, Einstein, Borh, Schrodinger, Heidelberg…

Chúng ta sẽ bắt đầu từ các thí nghiệm thuộc hàng “top ten các thí nghiệm đẹp nhất mọi thời đại” có ảnh hưởng trực tiếp, hoặc gián tiếp tớí sự hình thành hai “trụ cột” của Vật lý hiện đại: Thuyết tương đối rộng và Cơ học lượng tử. Sau đó, sẽ đến hàng loạt các thí nghiệm khác nhằm củng cố cho các “ý tưởng điên rồ”, hoặc “che đậy” cho sự “yếu kém” về Vật lý (cả từ lý thuyết lẫn thực nghiệm)… Xin ai đó cũng đừng mếch lòng về sự nói thẳng, nói thật này, vì cổ nhân đã có câu: “thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng”…

Do quỹ thời gian của tác giả có hạn, nên những bài viết dưới đây sẽ được cập nhật dần dần, và cũng không nhất thiết tuân theo trình tự thời gian, hay chuyên đề nào, nhưng hy vọng sẽ “mở mắt” cho những ai còn “u mê”, “dò dẫm” trên con đường khám phá bí ẩn của thế giới tự nhiên, nhưng lại bị trói buộc bởi “đức tin” và “sự cuồng tín”… Trước và sau khi đọc bài “Xét lại thí nghiệm hai khe Young”, xin quý vị hãy xem đoạn video này và suy ngẫm nhé? Cũng cảnh báo rằng xin quý vị đừng lấy cơ học lượng tử ra để giải thích hiện tượng này, bởi vì chính cơ học lượng tử đã chấp nhận “lưỡng tính sóng-hạt” là tiên đề rồi, thì việc dùng nó để giải thích lại “lưỡng tính sóng-hạt” có khác gì “lấy mỡ nó rán nó” đâu?

1. Xét lại thí nghiệm rơi tự do

2. Xét lại thí nghiệm khe Young

giải thích theo quan điểm của CĐM trên cơ sở nguyên lý tác động tối thiểu

3. Xét lại thực nghiệm vũ trụ dãn nở vụ nổ Big Bang (để tham khảo)

4. Xét lại phổ hấp thụ vá bức xạ

5. Xét lại thí nghiệm bức xạ và hấp thụ photon

6. Xét lại thí nghiệm đo “sự chậm thời gian do hấp dẫn”

7….

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 3794/2012/QTG)

Đến nay, “Con đường mới của vật lý học” đã ra mắt công chúng được hai năm, tính theo thời điểm công bố trên blog tiếng Việt; được một năm rưỡi, tính theo thời điểm xuất bản sách và một năm tính theo thời điểm công bố trên blog tiếng Nga http://www.vatlyhoc.com. Trên blog tiếng Việt thì không nói làm gì, chỉ có vài ba người trao đổi, dăm chục cái comments gọi là có – ai cũng vì “cơm áo gạo tiền” cả, sức đâu lo mấy cái chuyện nghiên cứu, nghiên cọt chẳng ra được cái “xu mốc” nào! Song với blog tiếng Nga thì khác. Mặc dù “sinh sau đẻ muộn” ngót năm trời, vậy mà tới cả ngàn comments: khen có, chê có…, nhưng chê thì ít (chỉ đếm trên đầu ngón tay), phần lớn là cổ vũ, cảm ơn, thậm chí không thiếu những “fan hâm mộ” (có thể thấy là bản dịch đã vượt qua được “hàng rào ngôn ngữ”). Song, có lẽ đa phần trong số đó là “dân ngoại đạo”, hoặc là học sinh, sinh viên… Còn giới vật lý “chính thống” thuộc dạng “hàn lâm viện” vẫn thờ ơ, đứng ngoài cuộc… chẳng khác gì ở ta vậy!

Điều gì đã xẩy ra thế? Vì sao mà “Con đường mới” vẫn vắng bóng “anh hùng, hào kiệt” bốn phương? “Ý nghĩ lành mạnh” mách bảo: cần phải xem xét lại đi!

– Hoặc đây là “Con đường” dở hơi, khiến ngay cả những “sỹ tử” tầm thường nhất cũng đủ minh mẫn để chẳng dại “dấn thân”?

– Hoặc “Không lẽ cả thiên hạ say, chỉ một mình ta tỉnh?” như một vị hiền triết phương Đông thời nọ đã từng ngửa mặt lên trời mà than?

Muốn biết rõ sự tình, mời các bạn hãy nhấn vào đây: TRẢ LẠI VẬT LÝ CHO VẬT LÝ (Tiếng Việt); LET RETURN PHYSICAL NATURE TO PHYSICS (in English)

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 3794/2012/QTG)

Đây là một trong những thể hiện của sự bất cập số 10: “Định luật bảo toàn năng lượng chỉ là ảo giác” trong chuyên mục “Những nghịch lý và bất cập của vật lý học”

Có một sự thiếu nhất quán về phương diện nhận thức sự phân bố năng lượng của vật thể trong trường trọng lực của Trái đất và của electron trong trường điện tĩnh của nguyên tử, mặc dù cả 2 trường đều có cùng một điểm chung đó là trường lực thế, hơn thế nữa, lực trường thế của cả 2 đều cùng tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách tới tâm của trường. Xuất phát từ việc xem xét và chính xác hoá các khái niệm về lực hút lẫn nhau và năng lượng của vật thể như thế năng, hiệu thế năng, năng lượng âm, năng lượng dương, tác giả phản đối sự “đánh tráo” giữa các khái niệm thế nănghiệu thế năng của vật thể trong trường trọng lực cùng sự bất cẩn trong việc áp đặt thế năng trên bề mặt Trái đất bằng 0 – một sai sót nhỏ nhưng lại dẫn đến những lầm lẫn lớn, đó là sự bất cập của định luật bảo toàn cơ năng mà hệ quả của nó là sự chuyển hoá qua lại giữa động năng và thế năng của vật thể chuyển động trong trọng trường – một nhận thức sai lầm về bản chất của hiện tượng, là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thiếu nhất quán giữa thế giới vĩ mô và thế giới vi mô. Tác giả cũng chứng minh được rằng cơ năng của vật thể chuyển động trong trọng trường không những không thể bảo toàn mà, trái lại, có thể tăng liên tục. Trên cơ sở đó, có thể tái khẳng định sự tham gia nội năng của vật thể vào quá trình chuyển hoá năng lượng của nó trong trường lực thế và nhờ đó phát biểu định luật bảo toàn năng lượng toàn phần (bao gồm cả nội năng) của vật thể trong trường lực thế đó. Biểu thức năng lượng toàn phần W của vật thể trong trường lực thế với thế năng tới hạn Uk là:

W = mc2 + 2Uk.

Có thể xem toàn văn  bằng cách nhấn vào link: Xet lai dinh luat bao toan co nang

Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 137/2008/QTG)

Cuốn sách mới xuất bản của tôi

.

Có thể nhấn vào đây: 1- Tóm tắt nội dung; 2-Lời nói đầu;
3- Khái quát; 4- Chương I;