(Đây là một trong những thể hiện của sự bất cập số 10: “Định luật bảo toàn năng lượng chỉ là ảo giác” trong  chuyên mục “Những nghịch lý và bất cập của vật lý học”)

Có một sự thiếu nhất quán về phương diện nhận thức sự phân bố năng lượng của vật thể trong trường trọng lực của Trái đất và của electron trong trường điện tĩnh của nguyên tử, mặc dù cả 2 trường đều có cùng một điểm chung đó là trường lực thế, hơn thế nữa, lực trường thế của cả 2 đều cùng tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách tới tâm của trường. Xuất phát từ việc xem xét và chính xác hoá các khái niệm về lực hút lẫn nhau và năng lượng của vật thể như thế năng, hiệu thế năng, năng lượng âm, năng lượng dương, tác giả phản đối sự “đánh tráo” giữa các khái niệm thế năng và hiệu thế năng của vật thể trong trường trọng lực cùng sự bất cẩn trong việc áp đặt thế năng trên bề mặt Trái đất bằng 0 – một sai sót nhỏ nhưng lại dẫn đến những lầm lẫn lớn, đó là sự bất cập của định luật bảo toàn cơ năng mà hệ quả của nó là sự chuyển hoá qua lại giữa động năng và thế năng của vật thể chuyển động trong trọng trường – một nhận thức sai lầm về bản chất của hiện tượng, là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thiếu nhất quán giữa thế giới vĩ mô và thế giới vi mô. Tác giả cũng chứng minh được rằng cơ năng của vật thể chuyển động trong trọng trường không những không thể bảo toàn mà, trái lại, có thể tăng liên tục. Trên cơ sở đó, có thể tái khẳng định sự tham gia nội năng của vật thể vào quá trình chuyển hoá năng lượng của nó trong trường lực thế và nhờ đó phát biểu định luật bảo toàn năng lượng toàn phần (bao gồm cả nội năng) của vật thể trong trường lực thế đó.

Có thể xem toàn văn  bằng cách nhấn vào link: Xét lại định luật bảo toàn cơ năng của vật thể trong trường lực thế

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 137/2008/QTG)

Cuốn sách mới xuất bản của tôi

SUMMARY

XX century passed over in “the ups and downs” of the science and technology but the deep crisis for the thought basic of physics in particular and the natural sciences in general make us contemplate and worry: matter was born from Big Bang? And space and time were also born from there? Is there existence the creator to control all processes right from that time with the purpose of appearing mankind being? And that the phenomenon “spirit” such as: going to find out the grave samebody may be said that consciousness can be really exist out side matter? Stepping to XXI century, the echoes of “one time passed over” still saddled with the responsibility of people who study the science seriously.

As we knew, physics might have considered starting when Galileo has spoken “principle of inertia” for 350 years up to now. Going through Newton’s mechanics, Maxwell’s electrodynamics, Einstein’s relativity, quantum mechanics and quantum field theory… Physics, as people still thought, can to move towards more and more closely to universal truth, reach to a theory which unifies the all interactions having in the Nature. However, that will not have been able to happen because “Physical castle” was built on an “unsolid foundation”, leads to the phenomenon “leaning” as same as Pisa tower where Galileo had carried out the his famous experiment “freely falling body”. That “unsolid foundation” is metaphysical thinking, differentiate between dialectical materialism and the basic concept such as matter, space, time, motion, inertia etc…The big problem is the conception of “existence by oneself”, but is not “interdependent existence” as instinctive origin of natural World. Instead of going to the origin of the phenomenon from the philosophically general outlook, people avoided those thorny problems and finally, they must accept the metaphysics as one “unique target” and so that they had indeliberated to turn physics into an instrument in order to quibble for “crazy thoughts”, in fact, they turned back to the scientific spirit – Although Newton warned that: “Physics should be cautious with the metaphysics!”. “Nature is by its natural” – a mouth statement is to console ourselves for our powerlessness more than we must admit the paradox accumulating much more in physics, motivating the science to God.

On the basic of the absolute dialectical materialism methodology, the author tries to present again the most essential parts of physics as per the consistent order, from physical world outlook as an interdependent unification, the author does not accept the existence by oneself, does not discriminate microcosmic or macroscopic, rejecting to get out of physics for the metaphysical concepts with the slogan: “Return physics for physics”! Considering from this point of view, Newton mechanics is only the particular case of “A New Way” when the factor or the others can be ignored, they are not excluded but are true in the restrict condition for space and time, and when the bigness of magnetic force connecting the objects together may be ignored in order to accept the conception for the existence by oneself; electromagnetic field theory of Maxwell; relativity mechanics of Einstein and quantum field theory in the sphere of “A New Way”, one hand, mathematical formalism will be used to make the instruments to calculate the parameters of the physical processes but not be the means of modeling those processes, on the other hand, they only can apply in the local space and time narrow sphere; For the quantum mechanics in particular, Einstein was right when he said that “the God does not shoot dice” – That is true! The conception for the existence by oneself made the exertions which apply the mechanism regulation of Newton to the atomic physics, consisting of optics as well as nuclear physics, has not succeeded, in the microcosmic world, the attractive interaction of heavenly bodies are too small in comparison with the other interactions on Earth, so supposition for that “existence by oneself” can be accepted with an error in the sphere which the measure equipments can ensure. However, when the force field was strong enough as electric field or nuclear field, it is not any way to ignore them again, and so that they must turn back with the substance of thing and is the interdependent existence, they give their selves trouble with their expression form – “wave-particle duality” and “quantum orbit” of electrons in atom theatrically. The thing which is called “quantum uncertain” by Heydelbert’s uncertainty principle which is only deviatory outlook, naturally, they were started from that “wave-particle duality”, although they completely were taken out from “least-action principle” – one expression of “the change in quantity – the change in quality” law in physics.

TÓM TẮT NỘI DUNG

Như đã biết, vật lý học có thể coi như bắt đầu từ khi Galileo phát biểu “nguyên lý quán tính” cho đến nay đã được gần 350 năm. Trải qua cơ học Newton, điện động lực học Maxwell, cơ học tương đối tính Einstein, cơ học lượng tử rồi lý thuyết trường lượng tử và lý thuyết siêu dây, siêu đối xứng… vật lý học những tưởng ngày một tiến đến gần hơn tới chân lý, tới một lý thuyết hợp nhất toàn bộ các tương tác có trong Tự nhiên. Tuy nhiên, điều đó đã và sẽ không thể xẩy ra được vì “tòa lâu đài” vật lý vốn được xây nên từ một “nền móng” không vững chắc, dẫn đến hiện tượng “nghiêng” như chính tháp Pisa, nơi mà Galileo đã thực hiện thí nghiệm “rơi tự do” nổi tiếng của mình. “Nền móng” không vững chắc đó chính là nền tảng tư tưởng siêu hình, kỳ thị với phép biện chứng duy vật với các khái niệm cơ bản như vật chất, không gian, thời gian, vận động, quán tính v.v.. Nổi cộm lên là quan niệm về một sự “tồn tại tự thân” chứ không phải là “tồn tại phụ thuộc lẫn nhau” như bản chất vốn có của thế giới tự nhiên. Và thay vì đi tìm đến với cội nguồn của các hiện tượng từ cách nhìn tổng quát mang tính triết học, người ta đã né tránh những vấn đề “gai góc” ấy, để cuối cùng phải chấp nhận siêu hình như một “cứu cánh” duy nhất và do đó đã vô tình tự biến vật lý thành một công cụ ngụy biện cho những “ý tưởng điên rồ”, về thực chất, đi ngược lại với tinh thần của khoa học – mặc dù Newton vĩ đại đã có lời cảnh báo: “Vật lý hãy cẩn trọng với siêu hình!”. “Tự nhiên vốn dĩ như vậy” – một câu nói cửa miệng chỉ để tự an ủi cho sự bất lực của chúng ta hơn là thừa nhận những nghịch lý và bất cập ngày càng chất chồng nhiều lên trong vật lý, đẩy khoa học đến với Thượng đế.

Trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật triệt để, tác giả cố gắng trình bầy lại những phần cốt lõi nhất của vật lý học theo một trình tự nhất quán, từ cách nhìn thế giới vật chất như một thể thống nhất, phụ thuộc lẫn nhau, không chấp nhận tồn tại tự thân, không phân biệt vi mô hay vĩ mô, loại bỏ ra khỏi vật lý những khái niệm siêu hình vốn đã ăn sâu, bám rễ một cách dai dẳng với khẩu hiệu “Trả lại vật lý cho Vật lý”! Xét từ góc độ này, cơ học Newton chỉ là trường hợp riêng của CĐM khi có thể bỏ qua yếu tố này hay yếu tố khác, nó không bị loại trừ mà vẫn đúng trong điều kiện hạn chế về không gian và thời gian, trong điều kiện khi độ lớn của lực trường thế gắn kết các vật thể với nhau có thể được bỏ qua để chấp nhận quan niệm về sự tồn tại tự thân; lý thuyết trường điện từ của Maxwell, cơ học tương đối tính của Einstein và lý thuyết trường lượng tử trong phạm vi CĐM, một mặt, chỉ còn được coi là những hình thức luận toán học làm công cụ tính toán các thông số của các quá trình vật lý mà không phải là phương tiện để mô phỏng các quá trình đó, mặt khác, chúng cũng chỉ có thể ứng dụng được trong một phạm vi hẹp cả về không gian, thời gian lẫn độ lớn của tác động; riêng đối với cơ lượng tử, Einstein thiên tài đã có lý khi nói “Chúa không chơi súc sắc” – quả đúng vậy! Chính quan niệm sự tồn tại tự thân đã khiến mọi nỗ lực áp dụng những quy luật cơ giới của Newton vào vật lý nguyên tử, kể cả quang học cũng như vật lý hạt nhân đã không thành công, vì trong thế giới vĩ mô, tương tác hấp dẫn của các thiên thể thường quá nhỏ bé so với những tương tác khác trên Trái đất, nên giả thiết về sự tồn tại tự thân đó còn có thể chấp nhận được với một sai số nằm trong phạm vi mà các thiết bị đo có thể đảm bảo được. Tuy nhiên, khi trường lực thế đã đủ mạnh như trường điện hay hạt nhân, thì không có cách gì loại bỏ chúng đi được nữa, và như vậy, đáng lẽ ra phải quay trở về với bản chất của sự vật là sự tồn tại phụ thuộc lẫn nhau, thì người ta lại loay hoay với hình thức biểu hiện của chúng – “lưỡng tính sóng-hạt” và sự “lượng tử quỹ đạo” của electron trong nguyên tử đầy kịch tính. Cái được gọi là “sự nhòe lượng tử” bởi nguyên lý bất định Heidelberg chỉ là một cách nhìn lệch lạc, về thực chất, lại được xuất phát cũng từ chính “lưỡng tính sóng-hạt” đó, mặc dù nó hoàn toàn được rút ra từ “nguyên lý tác động tối thiểu” – một thể hiện của quy luật lượng đổi-chất đổi trong vật lý.

Tất cả nội dung trên được thể hiện trong 4 chương và Phụ lục:

Chương I – trình bầy lại toàn bộ các phạm trù cơ bản cùng các quy luật vận động của vật chất trong khuôn khổ của triết học duy vật biện chứng trệt để; các khái niệm cơ bản, các nguyên lý và định luật cơ bản của vật lý học.

Chương II – trình bầy tương tác hấp dẫn, hiện tượng quán tính trong trường hấp dẫn, các trạng thái năng lượng của thực thể vật lý và cách sử dụng các HQC khác nhau để nghiên cứu tương tác giữa các thực thể vật lý.

Chương III – trình bầy tương tác điện và lý thuyết về dipol, photon và sự thống nhất tương tác điện – hấp dẫn.

Chương IV – trình bầy tương tác hỗn hợp điện – hấp dẫn và nguyên tử; giả thuyết về multipol, hạt nhân và thống nhất các tương tác hạt nhân với tương tác điện; liệt kê những vấn đề còn tồn đọng của CĐM và phác họa ý tưởng giải quyết chúng.

Trong phần Phụ lục trình bầy 28 nghịch lý và bất cập của vật lý hiện nay và cách giải quyết trong khuôn khổ CĐM; khái niệm nghịch lý được tác giả sử dụng để chỉ những hiện tượng và sự vật trái với tư duy biện chứng duy vật triệt để; còn những hiện tượng, tuy trước đây bị coi là nghịch lý nhưng, theo tiêu chí như vậy, không còn là nghịch lý nữa, được liệt kê ở phần cuối của Phụ lục.

Cuối cùng, nỗ lực của tác giả là cố gắng gìn giữ những gì là “tinh hoa” của tri thức nhân loại trong suốt hơn 2500 năm qua, chỉ bổ khuyết, sửa chữa những bất hợp lý, trái với lôgíc và “suy nghĩ lành mạnh”, trái với bản chất của hiện tượng mặc dù, về mặt hình thức, có vẻ như mọi việc xẩy ra như chúng đang có. Nội dung đó hình thành nên CON ĐƯỜNG MỚI CỦA VẬT LÝ HỌC – cũng là tên của cuốn sách này vậy.

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 2935/2007/QTG)

Tương tác điện từ là một trong 4 tương tác cơ bản của vật lý hiện đại. Tuy nhiên, từ góc độ của Con đường mới (CĐM), chỉ có tương tác điện mới thật sự là cơ bản còn tất cả các tương tác còn lại, kể cả tương tác từ, cũng chỉ là các thể hiện khác nhau của nó mà thôi. Vì vậy, việc nghiên cứu tương tác điện về thực chất chính là tiền đề cho sự thống nhất các tương tác trong khuôn khổ CĐM: tương tác từ, tương tác hấp dẫn, tương tác hạt nhân mạnh và yếu chỉ là những biểu hiện khác nhau của chính tương tác điện của 2 hạt cơ bản là electron và positron. Chính sự giống nhau về hình thức giữa định luật Coulomb và định luật hấp dẫn Newton đã gợi ý cho việc viết định luật vạn vật hấp dẫn tổng quát cho cả 2 tương tác này và nhờ đó đi đến kết luận: hấp dẫn chỉ là “tương tác điện tàn dư” giữa 2 hạt cơ bản là electron và positron – sự kết hợp giữa 2 hạt này trong một điều kiện nhất định đã hình thành nên nên dipol-R còn gọi là “hấp dẫn tích” – phỏng theo cách gọi phần tử mang điện nhỏ nhất của tương tác điện là “điện tích”, bên cạnh đó, trong những điều kiện khác, sự kết hợp đó lại có thể hình thành nên dipol-Q tiền thân của photon – cấu trúc của photon đã được khám phá.

Để hiểu được chuyên mục này, người đọc nhất thiết phải nắm vững những vấn đề đã được trình bầy trong các chuyên mục trước bao gồm: “Khối lượng quán tính và ảnh hưởng của nó tới sự phát triển của vật lý học”, “Cơ sở của vật lý học hiện đại” và “Năng lượng của thực thể vật lý trong trường lực thế”.

Có thể tải toàn bộ nội dung ở dạng pdf.file bằng cách nhấn vào đây: Tương tác điện

Để làm rõ hơn nữa những vấn đề có thể được giải quyết trong khuôn khổ “Con đường mới của vật lý học”, tác giả bổ xung thêm bài này trong đó trình bầy 25 nghịch lý và bất cập của vật lý học hiện hành. Với “Con đường mới”, những nghịch lý và bất cập này không còn tồn tại nữa.

Để xem toàn văn, xin nhấn vào đây: Những nghịch lý và bất cập của Vật lý học

Tháp nghiêng Pissa ở Ý

Tháp nghiêng Pisa ở Italia

Để giúp quý vị hình dung dễ dàng hơn tình trạng của “Tòa lâu đài Vật lý” được xây dựng từ hơn 350 năm qua theo quan điểm của “Con đường mới”, từ đó thấy được nguyên nhân phải đến với “Con đường mới của vật lý học”, tác giả mạo muội trình bầy bản phác họa “tòa lâu đài” này theo đó, “nền móng” của nó gồm: tư tưởng của Galileo về quán tính tự thân, HQC quán tính, nguyên lý tương đối cùng sự pha trộn với tư tưởng duy vật máy móc và duy tâm siêu hình. Trên cơ sở đó, “lâu đài vật lý” được đặt ở giữa có các “tầng” tương ứng với các lý thuyết của Newton, Maxwell, Einstein, cơ học lượng tử v.v..; các “cột chống” để “lâu đài” không bị “nghiêng” được bố trí ở bên phải và “tỳ” một cách tạm bợ lên chính “nền móng” vừa được nói ở trên; các “sợi cáp treo” để “giằng” cho “tòa tháp khỏi sụp đổ” được bố trí lệch về bên trái và kết nối với … THƯỢNG ĐẾ ở trên cùng – một kết cục tất yếu không thể tránh khỏi; đó dường như cũng chính là tòa tháp nghiêng Pisa, nơi Galileo làm thí nghiệm “rơi tự do” nổi tiếng!!! Tư tưởng của Đạo Phật cũng lẩn quất ở đâu đó (?) – được mô tả bởi một đám mây trôi dật dờ…

“Tòa lâu đài vật lý” từ Galileo đến … Thượng đế

Tòa lâu đài v�t lý

tầng thứ nhất, cơ học Newton được hình thành, nhưng để cứu vãn sự bấp bênh do “HQC quán tính” – một thực thể ảo gây nên, ông đưa vào không gian, thời gian tuyệt đốinguyên lý tương đối làm “cột chống”. Cũng ở tầng này, Maxwell đã xây dựng điện động lực học một cách rất thành công nhưng vẫn phải dựa vào “cột chống” ether nữa mới “trụ lại” được.

Lên tầng thứ hai, thoạt tiên, Einstein xây dựng thuyết tương đối hẹp nhờ việc “kê” thêm một “viên gạch” c = const, song để tránh “độ nghiêng”, ông dùng thêm một “cột chống” là không-thời gian 4 chiều. Cùng một lúc với Einstein thì Bohr và những người khác đã dựng nên cơ học lượng tử (cổ điển) nhưng bằng cách khác là “kê” thêm “lượng tử tác dụng” – hằng số Planck. Tuy nhiên, để duy trì tòa tháp, lúc này không thể dùng các “cột chống” được nữa mà phải sử dụng tới “công nghệ” khác đó là “cáp treo” – một “sợi cáp” như vậy được hình thành chính là lượng tử hóa quỹ đạo – đối với các điện tử trong nguyên tử được phép có những quỹ đạo dừng, không bức xạ năng lượng (?). Nhưng biết “treo” lên đâu bây giờ? Câu trả lời có lẽ là duy nhất: “Thượng đế”! Đó là lý do Thượng đế xuất hiện trong bức phác họa với hình dạng một đám mây lớn ở trên cùng …

Lên tầng thứ ba, một mặt, Einstein dựng nên thuyết tương đối rộng nhưng buộc phải dùng tới 2 “cột chống”: nguyên lý tương đươngtenxơ Riemann, mặt khác, Schrodinger, Heidelbert, và rất nhiều người khác kế tiếp nhau, nhờ áp dụng “công nghệ cáp treo” mới, “tiên tiến” hơn, đã dần dần xây dựng nên lý thuyết trường lượng tử với số lượng “cáp treo” tăng vượt bậc: lưỡng tính sóng-hạt, hạt ảo, đối xứng, chuẩn hóa, chân không lượng tử, v.v.. Hai “căn hộ” cọc cạch đặt trên cùng một tầng gác này đã dẫn đến nghịch lý EPR đảo điên một thời, với sự thắng thế, tất nhiên, của những ai “về phe” Thượng đế toàn năng!

Cả Einstein, cả những người chống đối ông đều có tham vọng xây tiếp tầng thứ tư: lý thuyết thống nhất các tương tác. Tuy nhiên, vì chối bỏ Thượng đế, kiên trì với quan điểm:”Thượng đế không chơi xúc sắc”, chỉ với không-thời gian n chiều theo cách của Kaluza-Klein, Einstein đành phải “dứt áo ra đi” dang dở trong sự cô độc. Tầng thứ tư này, đành phải nhường lại cho hậu thế: Freedman, Glashow, Salam, Weinberg, Hawking, v.v.. họ đã hạn chế chỉ với 1 “cột chống”: không-thời gian n chiều vì phương pháp dùng các “cột chống” đã lỗi thời, mà chuyển hoàn toàn sang “công nghệ cáp treo” hiện đại, với điểm giữ cáp tuyệt đối vững chắc: Thượng đế toàn năng. Các “sợi cáp” bây giờ đạt tới số lượng kỷ lục: siêu đối xứng, tái chuẩn hóa, lạm phát, vật chất tối, năng lượng tối, vật chất ảo, thời gian ảo, v.v.. và v.v.. không kể xiết. Xin thứ lỗi vì phác họa không được đẹp do trình độ họa sỹ nửa mùa! Và hơn thế nữa, có thể trong cấu trúc được vẽ nên có nhiều chi tiết chưa hợp lý, cần phải sửa đổi…

Vấn đề là tại sao lại không thể xây lại một một tòa tháp khi biết rằng nền móng của nó không đủ vững chắc, đã sụt lở? (bằng chứng là có quá nhiều cột chống đỡ và cả cáp treo). Còn nói chung có lẽ, xét từ góc độ phương pháp luận, trong trường hợp “tiền vá quá tiền xăm” này, nên đập đi xây lại từ một nền móng khác đã được gia cường một cách bài bản có phải hơn chăng? Hoặc chí ít ra cũng là lựa chọn việc đầu tiên phải làm là củng cố lại nền móng trước khi xây thêm, hoặc sang sửa lại các tầng tháp để giải phóng các “cột chống” cũng như các “cáp treo” rất “mất mỹ quan đô thị” và tất nhiên là không mấy chắc chắn khi tiếp tục muốn xây cao thêm nữa.

Con đường mới của vật lý học” chính là sự cố gắng của tác giả theo cách tư duy đó – không biết các đồng nghiệp nghĩ sao? Hãy “sắn tay áo” cùng nhau thôi chứ? Còn chần chờ gì nữa? Lời của Người quá cố vẫn còn đây: “Đất nước Việt nam có sánh vai với các cường quốc năm Châu được hay không…” trong khi về mặt kinh tế, khả năng này là khó có thể trong tương lai gần: 50 – 100 năm tới, nhưng về mặt khoa học và trí tuệ, chưa biết liệu “mèo nào đã cắn mỉu nào”!!! “Một cây làm chẳng lên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao” – một trường phái vật lý “Made in Vietnam”, của cộng đồng các nhà vật lý Việt nam lại chẳng hơn cứ phải lẽo đẽo theo sau mấy vị “mũi lõ, mắt xanh”?

Để giúp quý vị dễ theo dõi và phê phán nội dung của “Con đường mới”, tác giả đưa ra danh mục: “Liệt kê những khái niệm và ý tưởng khác biệt so với các tài liệu truyền thống”

Kính chào tất cả các quý vị yêu thích vật lý!

Nếu nhìn kỹ bức tranh mở đầu của blog này, các quý vị sẽ thấy ngay phần nền của dòng chữ “Con đường mới của vật lý học” chẳng biết thuộc về đâu cả – Trời với Đất trộn lẫn vào nhau! Luận ra có nghĩa là: “bản chất của thế giới vật chất là thống nhất”; phía trước là một hoang mạc, lơ thơ vài cây cỏ, dưới một bầu trời mây mờ, trắng xóa như muốn nói lên rằng: “nơi mà quý vị sẽ đến theo con đường này là một vùng không gian chưa từng được khám phá…” – chắc chắn sẽ cần đến nhiều công sức của quý vị đấy! Tông mầu chủ đạo chỉ có đen và trắng đan xen lẫn nhau ngụ ý rằng đó là 2 mặt đối lập của cùng một sự vật thống nhất. Tựu trung lại bởi một câu sau:

“Không có gì khác hơn ngoài vật chất vận động. Vật chất vận động không có cách gì khác hơn là nhờ đấu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập”.

Để có thể tin tưởng được vào Con đường mới này, cần nghiên cứu kỹ cả 3 chuyên mục của blog, đặc biệt là “Cơ sở của vật lý học”. Sắp tới đây, tác giả sẽ đưa ra thêm 2 chuyên mục nữa: tương tác điện (bao gồm cả ánh sáng + vật lý nguyên tử) và tương tác hạt nhân + hạt sơ cấp, nhằm minh họa tiếp cho các ý tưởng của phần cơ sở và dẫn đến sự thống nhất 4 tương tác có trong Tự nhiên. Hy vọng sẽ nhận được những ý kiến quý báu của quý vị và nhất là được sự cộng tác của quý vị trong công việc “khai phá miền đất mới được tìm thấy” này.

Xin quý vị làm ơn hãy nhấn vào chữ “No comment” (hay comment) ở ngay cuối dòng thứ hai sau mỗi đề mục, để gửi nhận xét của mình trực tiếp tới tác giả, có để lại E-mail để tác giả có thể liên lạc được thì càng tốt. Bất luận khen hay chê, tác giả cũng đều rất lấy làm vinh hạnh đón nhận và biết ơn.

Chào thân ái!

Ts Vũ Huy Toàn

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 1251/2007/QTG)

Năng lượng của mọi vật thể và mọi quá trình vật lý hiện được mô tả bởi phương trình nổi tiếng E=mc² của Einstein. Tuy nhiên, cơ sở để rút ra phương trình này phải là các hệ quy chiếu (HQC) quán tính mà trên thực tế, nhất là đối với thế giới vi mô – nơi duy nhất có thể kiểm chứng tính đúng đắn của phương trình đó, thì lại hoàn toàn không thể có những HQC như vậy. Xuất phát từ những quan niệm mới của vật lý học hiện đại đã được tác giả trình bầy gần đây, tác giả đã tiến hành tính toán lại phương trình năng lượng của các thực thể vật lý trong các HQC phi quán tính, cụ thể là trong trường lực thế với thế năng U(R) và đã rút ra được phương trình tổng quát W=mc²+2U. Bên cạnh đó, đã xác lập được tác dụng tối thiểu của trường hấp dẫn nhằm tính đến ảnh hưởng của các thiên thể với nhau từ góc độ năng lượng.

Các bạn có thể đọc bản toàn văn ở dạng file .PDF khi bấm vào link sau: Năng lượng của thực thể vật lý trong trường lực thế

(Giấy chứng nhận đăng ký Quyền tác giả số 1093/2007/QTG)

Xuất phát từ sự khủng hoảng thế giới quan của khoa học tự nhiên hơn một thế kỷ qua, với mục đích đặt lại nền tảng tư tưởng trước hết là cho vật lý học, tác giả đã trình bầy lại cơ sở triết học duy vật biện chứng triệt để cũng như toàn bộ các khái niệm cơ bản của vật lý học nhằm loại bỏ các quan niệm siêu hình ra khỏi vật lý, hạn chế khuynh hướng “toán học hoá vật lý” với khẩu hiệu “Trả lại vật lý cho vật lý”. Đã phân tích các phạm trù triết học cơ bản là vật chất, không gian và vận động trong đó, ý thức cũng chỉ được xem như một dạng tồn tại của vật chất, không gian được phân biệt thành 3 loại khác nhau về chất đó là không gian vật chất, không gian vật lý và không gian toán học trong đó chỉ có không gian vật chất mới được coi là ở cấp phạm trù, còn thời gian bị loại bỏ với tư cách là một phạm trù triết học cơ bản vì bản chất của nó chỉ là độ đo sự vận động của vật chất hoàn toàn có tính chủ quan. Đã chính xác hoá lại toàn bộ các khái niệm cơ bản của vật lý học trên cơ sở thế giới quan triết học mới cũng như những phát hiện mới về bản chất của hiện tượng quán tính, trong đó đặc biệt phải kể đến khái niệm khối lượng quán tính, năng lượng, hạt cơ bản, hệ quy chiếu và chuyển động theo quán tính.

Các bạn có thể đọc bản toàn văn ở dạng file .PDF khi bấm vào link sau: Cơ sở của Vật lý học hiện đại

(Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả số 899/2007/QTG)

Hiện tượng quán tính mà đại lượng đặc trưng cho nó là khối lượng quán tính là một trong những hiện tượng tự nhiên được biết đến sớm nhất nhưng bản chất của nó cho đến nay vẫn là một điều bí ẩn lớn đối với khoa học. Trên cơ sở phân tích các khuynh hướng nhận thức khái niệm khối lượng quán tính từ trước tới nay, tác giả đã tìm một cách tiếp cận khác tới bản chất của hiện tượng này đó là thời gian hữu hạn của mọi quá trình trao đổi năng lượng. Trong cơ học, tính hữu hạn của thời gian trao đổi năng lượng chính là nguyên nhân dẫn đến chuyển động của vật thể với gia tốc hữu hạn. Đã chứng minh được tỷ số giữa lực trường thế với gia tốc chuyển động của vật thể trong trường lực thế đó là một đại lượng không đổi đối với mỗi vật thể, không phụ thuộc vào chuyển động của nó; đó chính là khối lượng quán tính mà bấy lâu nay ẩn dấu không chịu lộ diện. Nhờ đó, cũng chính xác hoá được định luật rơi tự do và nguyên lý tương đương vốn cũng là một điều bí ẩn bấy lâu nay. Ngoài ra, đã phát triển được định luật 2 tổng quát của động lực học cho mọi hệ quy chiếu chứ không phải chỉ cho HQC quán tính.

Các bạn có thể đọc toàn văn dạng file .PDF khi bấm vào link sau: Bản chất của khối lượng quán tính.

Xin chào tất cả các bạn yêu thích vật lý học.

Tôi lập nên blog này để trình bày một số luận thuyết của tôi về Vật lý học.

Rất mong được các bạn trao đổi, đóng góp ý kiến.

Trân trọng cảm ơn.

Ts. VŨ HUY TOÀN